PHỤNG VỤ MÙA THƯỜNG NIÊN VÀ CÁC LỄ TRỌNG KÍNH CHÚA P1

PHỤNG VỤ MÙA THƯỜNG NIÊN VÀ CÁC LỄ TRỌNG KÍNH CHÚA P1

Tài liệu tham khảo - Mar 24/03/2014

Theo cha Pierre Jounel, trong Mùa Thường Niên có tất cả 7 lễ kính Chúa. Trong số đó có 3 được cử hành cả ở Giáo hội Đông và Tây phương : lễ Chúa Biến Hình (ngày 6/8), lễ Suy Tôn Thánh Giá (14/9) và lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bốn lễ thuộc riêng của Giáo hội theo nghi thức Roma : lễ kính Chúa Ba Ngôi

Trong bài “Mùa Thường Niên, việc tổ chức và chọn lựa thánh lễ và các bài đọc”, chúng ta đã nói đến những quy định của việc chon lựa thánh lễ và bài đọc tương ứng. Ở bài thứ hai này, chúng ta đề cập đến các lễ trọng Kính Chúa được cử hành trong Mùa Thường Niên : lịch sử và sự phát triển của nó.

Theo cha Pierre Jounel, trong Mùa Thường Niên có tất cả 7 lễ kính Chúa. Trong số đó có 3 được cử hành cả ở Giáo hội Đông và Tây phương : lễ Chúa Biến Hình (ngày 6/8), lễ Suy Tôn Thánh Giá (14/9) và lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bốn lễ thuộc riêng của Giáo hội theo nghi thức Roma : lễ kính Chúa Ba Ngôi (được cử hành sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống), lễ kính Mình Máu Thánh Chúa (được cử hành vào ngày thứ 5 thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống hoặc vào Chúa nhật kế tiếp), lễ Kính Trái Tim Chúa Giêsu (được cử hành vào ngày thứ 6 thứ ba sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống) và lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ được cử hành vào Chúa nhật thứ 34, khép lại năm phụng vụ hoặc chu kỳ Mùa Thường Niên.

Phần trình bày dưới đây được trích dịch trực tiếp từ tác phẩm « l’Eglise en prière » do A. G. Martimort chủ biên với sự cộng tác của các tác giả khác, tái xuất bản năm 1984 với phần chỉnh sửa, tập số 4, trang 112-116 ; « Le guide dans l’année liturgique », của Dom Pius Parsch, một tác phẩm giải thích về năm phụng vụ xuất bản trước Công đồng Vatican II ; La Maison-Dieu, tạp chí chuyên về phụng vụ, xuất bản theo chu kỳ tam nguyệt tháng tại Pháp.

PHẦN I
CÁC LỄ CHUNG THUỘC VỀ GIA ĐÌNH PHỤNG VỤ

 
Ba lễ được cử hành trong phụng vụ cả Đông và Tây phương :
 

1.- Lễ Chúa Biến Hình

a.- Nguồn gốc và sự phát triển của ngày lễ

Lễ Chúa Biến Hình được cử hành nhằm tưởng nhớ về việc cung hiến các thánh đường trên núi Thabor. Người ta chỉ biết rằng, lễ này đã được đón nhận từ cuối thể kỷ Ve hoặc đầu thế kỷ thứ VIe bởi Giáo hội Nestorienne và vào thế kỷ thứ VIIe bởi những người Syrie sống ở Tây phương[1]. Nó được cử hành trước lễ Suy tôn Thánh Giá, và vì thế nó lệ thuộc vào ngày lễ này được ấn định ngày lễ.

Theo truyền thống, biến cố biến hình của Chúa Giêsu diễn ra 40 ngày trước khi chịu khổ nạn thập giá. Vì thế, lễ này được ấn định cử hành vào ngày mồng 6 tháng 8, bốn mươi ngày trước lễ Suy tôn Thánh Giá (14 tháng 9)[2]. Giáo hội byzantin ghi nhận sự liên hệ giữa hai ngày lễ này khi cùng hát bài về sự Biến Đổi catavasia của cây Thập giá[3].

Lễ Chúa Biến Hình xuất hiện ở Tây phương vào giữa thế kỷ thứ IXe, ở vùng Naples và trong các quốc gia thuộc vùng lãnh trị của Đức và ở Tây Ban Nha. Lễ này được cử hành ở Pháp vào thế kỷ thứ Xe. Đến thế kỷ XIe và XIIe, lễ này đã lan rộng trong nhiều vùng ở Tây phương và tạo nên những ảnh hưởng lớn về đời sống đạo đức. Lễ này được cử hành trong Vương Cung Thánh Đường Vatican. Phêrô le Vérérable đã thực hiện một cuộc tuyên truyền lễ này với tất cả nhiệt tâm đạo đức và đã soạn thảo một kinh phụng vụ cho ngày lễ. Tiếp đến đan viện Cluny đã giúp cho lễ này được lan truyền cách bao quát[4] trong khi đợi cho lễ này được ghi vào trong Lịch phụng vụ Roma bởi Đức Giáo Hoàng Caliste III, năm 1457, để nghi nhớ và tạ ơn về chiến thắng những người Thổ Nhĩ Kỳ gần Belgrade, ngày 6 tháng 8 năm 1456, bởi Gioan Hunyade và thánh Gioan de Capistran.

b.- Việc cử hành ngày lễ

Ở Đông phương, Lễ Chúa Biến Hình được cử hành theo một cách thức thuộc vào những lễ quan trọng đặc biệt của năm phụng vụ. Tự bản chất, lễ này diễn tả tất cả thần học về sự chia tách thiên tính của con người, nhờ ánh sáng của Đức Kitô : “Trong ngày này, trên núi Thabor, Đức Kitô biển đổi bản chất bị che mờ của Adam bằng ánh sáng của Người bao quanh, Người đã chia tách ánh sáng và bóng tối”[5], “Đức Kitô Thiên Chúa, bạn của con người, chiếu sáng trên chúng ta ánh sáng vinh quang của Người không bao giờ tắt”[6].

Ở Tây phương, mặc dù lễ này được cử hành theo cách ít trọng thể hơn so với nghi thức phụng vụ Đông phương, nhưng phụng vụ theo nghi thức Roma đã đón nhận sự ảnh hưởng của Giáo hội Đông phương trong phần Kinh phụng vụ giờ Kinh Sách. Trong giờ Kinh Sách, phụng vụ theo nghi thức Roma đã đọc bài giảng của Anastase le Sinaïre : “Cùng với Đức Kitô chúng ta sẽ được đổi mới và được thần hóa trong những thành phần của tâm hồn chúng ta”. Trong Thánh lễ, chúng ta đọc, bản văn về sự Biển Hình của Đức Giêsu theo một trong các bản văn Nhất Lãm, đó là thị kiến của Đaniel, mà tác giả Tin mừng chắc hẳn đã có trong trí nhớ cũng như bản văn trong thư được cung cấp của thánh Phêrô (thư thứ 2).

Chúng ta tìm thấy trong bản văn này tính chất quan trọng của chứng tá Phêrô về cuộc Biến Hình của Chúa trong đức tin của thế hệ kitô giáo đầu tiên.
 
2.- Lễ Suy tôn Thánh Giá

a. Nguồn gốc và sự phát triển của ngày lễ

Lễ Suy tôn Thánh Giá xuất hiện trước tiên tại Giêrusalem vào thế kỷ thứ IVe. Vào thế kỷ thứ Ve, lễ này được cử hành vào ngày 13 tháng 9, kỷ niệm cung hiến các vương cung thánh đường constantes trên đồi Golgotha[7]. Theo Egérie ngày này đã được chọn, bởi vì nó trùng vào dịp và nơi tìm ra Thánh Giá vào năm 335[8]. Sách Bài Đọc Arménien ở Giêrusalem những năm 420 chỉ dẫn rằng, ngày thứ hai trong tuần Bát Nhật trước lễ Phục Sinh (tức là ngày thứ Sáu Tuần Thánh), “sẽ đưa thánh giá cho tất cả toàn dân chiêm ngắm”[9]. Cuối cùng, lễ này đã lan rộng cách nhanh chóng trong toàn vùng Đông phương[10].

Trong khi đó, tại Roma vào đầu thế kỷ thứ VIe đã xuất hiện một lễ tưởng niệm việc khám phá ra cây Thánh Giá vào ngày mồng 3 tháng 5. Và chỉ đến giữa thế kỷ thứ VIIe, gỗ cây Thánh Giá này mới được đem ra cho dân chúng chiêm ngắm, vào ngày 14 tháng 9 trong Vương Cung Thánh Đường Vatican[11]. Đức Giáo Hoàng Sergius 1er (687-701) đã chuyển mảnh của cây Thánh Giá ở Vatican sang Vương Cung Thánh Đường Latran. Theo Liber pontificalis : “Từ đó, gỗ Thánh Giá được đem ra trưng bày cho dân chúng chiêm ngắm và hôn kính vào ngày lễ Suy tôn Thánh Giá”[12]. Hơn nữa, sự tôn kính dành cho cây Thánh Giá đã trở nên phổ biến trong khoảng thời gian từ năm 614 trước khi những người Ba tư chiếm đóng Giêrusalem, sát hại cư dân và phá hủy những vương cung thánh đường khác và lấy đi cây Thánh Giá. Năm 630 Héralius đã cho đặt và trông giữ cây Thánh Giá tại Constantinople. Vì thế, chỉ có thể nói một cách tình cờ rằng, những sách phụng vụ đã bắt đầu đề cập đến lễ ngày 14 tháng 9 vào giữa thế kỷ thứ VIIe. Từ thế kỷ thứ VIIIe, lễ này lan truyền qua Tây phương, nhưng nó bị lu mờ trong một thời gian dài bởi một lễ khác được cử hành cách trọng thể vào ngày 3 tháng 5. Cuối cùng, lễ ngày 3 tháng 5 bị loại bỏ vào năm 1960.

b.- Việc cử hành ngày lễ

Ở Đông phương “việc Suy Tôn về sự cao trọng và sống động của cây Thánh Giá” được cử hành vào lễ Phục Sinh. Hạn từ, “suy tôn”, được mượn từ Tin mừng thánh Gioan, chương 3 câu 14, phù hợp chặt chẽ với nghi thức, vốn được hoàn thành bởi những tín hữu theo nghi thức Byzantin. Qủa vậy, linh mục đưa lên cao gỗ Thánh Giá qua đầu của mình, kế đến ngài sẽ chúc lành cho dân, cùng lúc hướng đến bốn phương chính. Trong lúc này, ca đoàn hát một 100 lần kyrie eleison (xin Chúa thương xót chúng con) vào mỗi lần gỗ Thánh Giá được nâng lên cao như vậy. Tiếp đó, các tín hữu sẽ lần lượt đến thờ lạy cây Thánh Giá và nhận một cành hoa trang hoàng trên chiếc điã được để sẵn[13].

Ở Roma, lễ được cử hành vào ngày 14 tháng 9 đã tạo nên một dấu ấn từ rất lâu bởi một cuộc rước, bắt đầu từ đền thờ Đức Bà Cả đến Vương Cung Thánh Đường Latran nơi đặt gỗ cây Thánh Giá. Tại đậy, mọi tín hữu tôn vinh cây Thánh Giá trước khi cử hành thánh lễ. Hầu hết các Giáo hội Tây phương có cùng một nghi thức giống nhau. Tuy nhiên, cách thực hiện việc tôn vinh cây Thánh Giá lại có chút ít khác biệt: ở một vài nơi, nghi thức tôn vinh cây Thánh Giá được thực hiện vào lúc dâng lễ vật, ở chỗ khác sau kinh Lạy Cha. Ở Rouen (một tỉnh miền nam nước Pháp), trong hành trình cuộc rước, người ta làm trên đường rước chặng đường thánh giá (được làm ở trong trong giữa nhà thờ), nhằm để lau chùi Thánh Giá trước khi linh mục nâng lên cao, trước hết cho những người bệnh, kế đến là các linh mục hay trong hàng ngũ thừa tác viên linh mục và kế đến là cho toàn dân chiêm ngắm[14].

Trong các phần của lễ Suy Tôn Thánh Giá vinh quang, lời tiền tụng được soạn dựa vào đời sống Thiên quốc; tin mừng được trích dẫn theo thánh Gioan 3, 13-17 và bài thánh thư trong thư thánh Phaolô gởi cho Philiphe (2,6-11) nhấn mạnh đến việc bị đóng định của Đức Giêsu trên cây Thánh Giá, kế đến là vinh quang. Việc bị đóng đinh được loan báo bằng hình ảnh giống như hình ảnh con rắn đồng trong sa mạc thời Môsê (bài đọc thứ nhất Nbr 21, 4-9): “Khi ta được đưa lên khỏi mặt đất, ta sẽ kéo mọi người lên với ta” (Ga 12,32 và được chọn làm điệp ca phần Hiệp lễ). Trong phụng vụ Các Giờ Kinh, chúng ta hát những bài thánh thi của Fortunat, được soạn bởi giám mục Poitiers vào năm 568-569, pange lingua, Vexilla Regis, với đoạn O Crux ave, được thêm vào khoảng thế kỷ thứ Xe. Trong bài đọc Kinh Sách, chúng ta đọc bài giảng của thánh André de Crète, nhắc lại rằng “cây Thánh Giá vừa đồng thời là sự đau khổ, vừa là thành quả (chiến lợi phẩm) của Thiên Chúa”.
 
3.- Lễ Cung Hiến Thánh Đường

a.- Nguồn gốc của ngày lễ

Hàng năm, người Do Thái cử hành lễ có tên Hanoukka hoặc lễ Khánh Thành “Encaenia” (Ga 10,22), nhằm tưởng nhớ việc thanh tẩy và cung hiến Đền Thờ (Giêrusalem) sau chiến thắng của những người Maccabe trên những người Syrien (165 AC)[15]. Giáo hội Giêrusalem đã thêm vào một truyền thống về lễ tưởng nhớ việc cung hiến các Vương Cung Thánh Đường phần Martyrium (hay Tử Đạo) và Anastasis (nhà thờ Phục Sinh) vào ngày 13 tháng 9 năm 335.

Sách danh mục Tử Đạo đã ghi nhận những ngày lễ cung hiến các vương cung thánh đường được thiết lập ở Roma trong thời gian từ thế kỷ thứ Ve : Đức Bà Cả (ngày 5 tháng 8), thánh Phêrô Aux-Liens (ngày 1 tháng 8), Tổng lãnh Thiên Thần Micae (13 tháng 9), Thánh Laurent ngoại Thành (ngày 2 tháng 11). Tuy nhiên, cần phải đợi cho đến thế kỷ XIe để thấy được sự miêu tả về việc cung hiến thánh đường Latran (ngày 9 tháng 11) và những vương cung thánh đường về Tông đồng Phêrô và Phaolô (ngày 8 tháng 11).

Từ thế kỷ VIIe, nếu các sách phụng vụ ghi nhận một lễ riêng, Terribilis est, được soạn cho lễ cung hiến đền Pathéon (khoảng 610), thì lễ đã được cử hành vào ngày sinh nhật của ngày cung hiến mà không diễn tả mầu nhiệm của Giáo hội, mặc dù vẫn có tước hiệu thánh, giống như chúng ta thấy ngày nay trong Sách lễ Roma, ngày 5 và 18 tháng 11. Cùng ở Latran, cũng bắt đầu bằng việc cử hành giờ Kinh nguyện về Đức Kitô, Đấng Cứu Độ[16].

b.- Việc cử hành lễ

Theo luật phụng vụ, trong nghi thức phụng vụ Roma, việc cung hiến Vương Cung Thánh Đường Latran, là Vương Cung Thánh Đường cổ nhất và có giá trị cao nhất (nhà thờ mẹ của các nhà thờ) trong những nhà thờ Tây phương được cử hành hàng năm. Lễ được cử hành trong mỗi địa phận và ở nhà thờ chính tòa địa phận. Nhưng trong các nhà thờ khác sẽ tưởng nhớ về ngày cung hiến riêng của nó.

Lễ cung hiến Thánh Đường diễn tả yếu tố Giáo hội hay tính chất cộng đoàn. Nếu việc xây dựng được thực hiện bởi những con người nhân danh giáo hội, nghĩa là công đoàn, điều này là bởi vì nó trở nên nơi quy tụ chính của dân Thiên Chúa trong ngày Chúa nhật. Vì thế, trong lời tổng nguyện chúng ta đọc : “Lạy Chúa, trong ngôi nhà này mà Người đã ban cho chúng con, Người đã xây dựng cho vinh quang của Người một đền thờ sống động là chính chúng con. Chính nơi đây, Người xây dựng Giáo hội hoàn vũ của Người”. Những điệp ca của phần Hiệp lễ phản chiếu tư tưởng của thánh Phaolô (1Cr 3,16) và thánh Phêrô (Pr 2,5) nói rằng : “Chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa”, “Chúng ta là những viên đá sống động”. Những bài giảng khác của các Giáo phụ được đề nghị cho ngày lễ đề cập đến những điều này. Đó là mầu nhiệm mà những thánh thi Angularis fundamentumUrbs Ierusalem beata đã diễn tả.

 


[1] Xem E. Mercenier, La prière des Eglises de rite byzantin, tome II/1, Chevetogne, 1953, tr. 380.
[2] J. Van Goudoever, Fêtes et calendriers bibliques, op.cit, tr. 276-277.
[3] E. Mercenier, op.cit., tr. 382 ss.
[4] Pierre Jounel, Le culte des saints dans les basiliques du Latran et du Vatican au XIIe siècle, Rome, 1977, tr. 268-269. Chúng ta tìm thấy bản văn kinh nguyện được soạn bởi Pierre le Vénérable trong bản monographie của Jean Leclercq, op.cit., tr. 383-390.
[5] E. Mercenier, op.cit, p. 383.
[6] Ibid., p. 383.
[7] Xem La Mais-Dieu, số 75/1963 : La Saint Croix. Xem đặc biệt, Pierre Jounel, « Le culte de la Croix dans la liturgie romaine », La Maison-Dieu, 75/1963, p. 68-91.
[8] Egérie, Journal de voyage, Paris, Cerf, coll. « Sources Chrétiennes » 21,1948. Truyền thống vẫn cho rằng, Thánh Giá thật này được tìm ra bởi thánh nữ Hélène, mẹ của đại đế Constantin vào năm 335 khi bà đi hành hương tại Jerusalem. Cũng nhớ rằng, vua thánh Louis IX nước Pháp cũng đã mua một phần cây gỗ Thánh Giá và đặt trong nhà nguyện của Vua, vào ngày 14 tháng 9 năm 1241, những báu vật này được để trong nhà nguyện của vua vào năm 1348. (Vua Louis IX cũng mua một phần cây sắt của chiếc đòng, một phần của mão gai, một phần cây sậy, mà lính đã dùng để dưa nước cho Chúa uống và một phần của chiếc áo choàng của Chúa). Nhà nguyện này được gọi tên là « La Sainte Chapelle ». Nhà Nguyện nằm chung trong khuôn viên « Palais de la Cité », vốn là nơi cư ngụ của các triều vua Pháp cho đến Charles V (thế kỷ XIVe), khi vua này chuyển hẳn chỗ ở về tại cung điện Louvre. Từ lâu, Nhà Nguyện này trở thanh điểm du lịch nổi tiếng của Pháp.
[9] A. Renoux, Le Codex arménien Jérusalem 121, II. Edition…, Turnhour, Brepols, 1971 (PO 36), tr. 363; Egerie, Journal de voyage, tr. 233-235.
[10] E. Mercenier, op.cit., tr. 108 ss.
[11] Pierre Jounel, « Le culte de la Croix dans la liturgie romaine », La Maison-Dieu 75,1963, tr. 75-82 và 87-91.
[12] Trong Liber pontificalis, nói rằng : « Người ta tìm thấy trong phòng thánh của Thánh Phêrô một phần hòm đựng đồ thánh cất giữ một phần rất quý giá và phù hợp với gỗ thánh giá của Đấng Cứu Độ… Vào ngày Suy tôn Thánh Giá, toàn dân kitô giáo hôn kính gỗ Thánh Giá này được trưng bày trong vương cung thánh đương Constantinople của Đấng Thánh-Đấng Cựu Độ ». Vương cung thánh đường này sau này đổi tên là Latran.
[13] E. Mercenier, op.cit. tr. 109-110.
[14] Xem E. Martène, De antiquis Ecclesiae ritibus, IV, 34, tome 3, éd. de Venise, 1764, tr. 213.
[15] Ở Giêrusalem, trong một thời gian, người ta muốn cử hành vào cùng thời gian một lễ cung hiến « tất cả các bàn thờ đã được thiết lập » : xem R. Renoux, op.cit, tr. 229. Dom Botte thấy trong lễ này nguồn gốc chính của các Chúa nhật về lễ Cung Hiến các nhà thờ ở Syrien. Xem, Dom Botte, Les Dimanches de la Dédicace dans les Eglises syriennes, tr. 65-70.
[16] Pierre Jounel, Le culte des saints, tr. 307.
 
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Văn Hiển, OP.

Nguồn tin: Học Viện Đaminh