HÃY KHÓC THƯƠNG THÂN MÌNH

HÃY KHÓC THƯƠNG THÂN MÌNH

SUY NIỆM - Nov 23/11/2017

Thứ Năm tuần XXXIII TN

Lc 19, 41-44

Thành Giêrusalem tượng trưng cho dân do thái và cho tất cả những người được Thiên Chúa ưu ái nhưng đã phụ lòng Ngài nên cuối cùng phải gánh lấy số phận bi thảm.

Thời tín hữu tiên khởi lóe lên khi chứng kiến sự sụp đổ của Giêrusalem. Tin Mừng hôm nay ghi lại tiếng khóc của Chúa khi tiến vào thành. Là một người Do Thái, Chúa đã khóc khi đã nhìn thấy cảnh đổ nát bị đế quốc Roma ngoại xâm giày xéo vào năm 70.

Niềm đau lớn nhất của Chúa Giêsu khi nhìn vào sự sụp đổ ấy còn là thái độ khước từ của dân Do Thái với sứ điệp của Ngài. Hãnh diện vì quá khứ hào hùng, tự hào về tư cách là dân riêng của Chúa, dân Do Thái đã bưng tai bịt mắt trước lời kêu gọi sám hối vào sứ điệp yêu thương đại đồng của Ngài.

Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thánh sử Luca đặt lời tiên báo thứ nhất trong ba lời tiên báo về sự suy tàn của thành đô, (Lc 19, 41-44; 21, 20-24; 23, 28-31), cụ thể nhất là thành thánh Giêrusalem bị đế chế La Mã phá huỷ năm 70 sau Công nguyên. Và một khi thành thánh Giêrusalem chỉ là một đống đổ nát, dân tộc Dothái chỉ biết bám víu vào Lề luật, hầu mong bảo đảm sự sinh tồn của quốc gia, giữ luật là sống, chối bỏ và vi phạm lề luật là chết.

Chúa Giêsu cũng đã khóc dân thành Giêrusalem. Đức Giê-su không khóc vì vui mừng nhưng vì than tiếc dân thành Giê-ru-sa-lem. Họ đã không nhận biết Người là Đấng Cứu Thế đem lại an bình, đem lại ơn cứu độ. Họ đã bịt tai trước những lời giáo huấn của Chúa. Họ đã nhắm mắt trước các phép lạ của Chúa. Nhất là họ đã nhẫn tâm chối bỏ, loại trừ và kết án Chúa.

Chúa vào thành Giêrusalem để thực hiện cuộc vượt qua mang lại ơn cứu rỗi, sự hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Ðây là giờ Thiên Chúa đến viếng thăm, giờ mang đến ơn cứu rỗi, sự bình an. Tuy nhiên, những người lãnh đạo dân Israel tại Giêrusalem như chúng ta thấy trong cuộc thương khó của Chúa, không những họ từ chối mà còn thành công trong việc xách động toàn dân chối bỏ Chúa, yêu cầu quan Philatô ra lệnh đóng đinh Chúa vào thập giá và tha cho Baraba. Như thế, dù có sự nồng nhiệt hoan hô Chúa trong ngày vào thành Giêrusalem trên lưng lừa, nhưng sự nồng nhiệt này chỉ thoáng qua và Chúa Giêsu nhìn thấy sự khước từ ơn cứu rỗi mà Ngài mang đến hơn là sự chấp nhận.

Ðiều xảy ra cho thành Giêrusalem cũng có thể xảy ra cho mọi người thuộc mọi thời đại. Mỗi người chúng ta đền có giây phút Chúa đến viếng thăm, đó là giây phút hồng phúc mang đến ơn lành, ơn cứu rỗi và sự bình an. "Ước chi hôm nay, ngươi hiểu biết sứ điệp mang hòa bình lại cho ngươi". Nhưng Chúa không bắt buộc tự do của mỗi người, sự tự do mà Ngài đã trao ban cho con người một lần vĩnh viễn, không bao giờ muốn lấy lại. Dù biết rằng con người vẫn có thể lạm dụng sự tự do đó để chống lại Ngài.

Thánh Luca cho chúng ta biết về bối cảnh Chúa Giêsu cảm thương cho thành Giêrusalem đang lâm vào những bế tắc trong việc đón nhận ơn ban từ Chúa. Khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để đi vào cuộc tử nạn và phục sinh của Người và sẽ mang lại bình an và ơn cứu độ cho nhân loại, trong đó có cả những người Do Thái, nhưng họ có thái độ từ khước đi những ân ban đó và Chúa đã biết họ không đón nhận. Nhìn vào một đền thờ nguy nga, tráng lệ của thành, thế mà Chúa lại khóc thương cho số phận không mấy tươi sáng cho thành trong tương lai và sẽ có ngày trở nên hoang tàn, bình địa. Điều đó được chứng thực việc Chúa nói không sai, vào khoảng 40 năm sau, tướng Titô đã tàn phá sang bằng thành thánh Giêrusalem. Dân chúng trong thành phải ly tán.

Như thế, việc người Do Thái không chấp nhận Chúa Giêsu, vì họ thấy Chúa không như ý họ muốn. Cuộc sống của chúng ta nhiều lúc gặp những khó khăn, thử thách hay mất niềm tin thì chúng ta bỏ Chúa vì Chúa không đáp ứng theo yêu cầu của chúng ta. Qua đoạn Tin mừng này, nhằm giúp chúng ta biết nhận ra thánh ý của Chúa, nhận ra những ân sủng và tình thương của Chúa ban cho mỗi người trong ơn gọi làm con cái Chúa. Và biết giúp cho người khác cùng nhận ra điều lành đó.

          Chúa Giêsu thương khóc dân thành Giêrusalem hôm xưa là lời nhắc nhở chúng ta hôm nay cảnh tỉnh lại đời sống vì đã sao nhãng hoặc sống ngược lại với phẩm giá và bổn phận của người Kitô hữu. Chúng ta dễ bị các dục vọng của xác thịt, bị các đam mê và bị những lôi cuốn của thế gian… che khuất con mắt đức tin và tiếng gọi của lương tâm công chính, khiến chúng ta không nhận ra ý chúa, khiến chúng ta không đáp lại ơn Chúa cho phải lẽ.

Thành Giê-ru-sa-lem thời Chúa Giê-su do vua Hê-rô-đê Cả – người đã giết các hài nhi ở Bê-lem – khởi công xây dựng từ năm 20 tr. CN mãi đến năm 64 s. CN. mới hoàn thành, chỉ tồn tại được 6 năm thì bị tướng Ti-tô phá bình địa, chỉ còn lại vài “bức tường than khóc” như hiện nay. Dù thành thánh còn dang dở sau “46 năm” xây dựng (x. Ga 2,20), và dù rất mực căm ghét Hê-rô-đê, người Do thái cũng rất tự hào về ngôi đền thờ nguy nga lộng lẫy này. Thế nhưng, đứng từ trên cao nhìn xuống, Chúa Giê-su đã than khóc nó vì Ngài thấy trước sẽ tới ngày “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” bởi vì thánh đô đã không đón nhận Tin Mừng bình an đến với mình.

Ðức Giêsu thương khóc thành Giêrusalem. Ngài tiên báo Giêrusalem sẽ bị tàn phá. Ðiều đó cho thấy Ðức Giêsu yêu thương thành và Người cảm thấy xót xa khi người ta từ chối tình yêu của Ngài: từ chối cứu độ và sự bình an Ngài mang đến cho họ. Mà vì không đón nhận nên họ phải đau khổ.

Có lẽ ngày nay Ðức Giêsu vẫn đang đau khổ và khóc thương vì tội lỗi chúng ta. Chúng ta cũng như dân thành Giêrusalem: cố tình chối bỏ Chúa để chạy theo những vật chất danh vọng nơi trần gian. Chúng ta sẽ phải làm gì để Chúa không còn khổ?

Tuệ Mẫn