Có người nói vui rằng nếu bỏ Thánh Kinh thì có thể bỏ hết nhưng để chương 15 của Tin Mừng theo Thánh Luca lại. Đơn giản bởi lẽ trang Tin Mừng này nói lên lòng từ bi bao la của Thiên Chúa.
Chương 15 của sách Tin Mừng Luca kể lại “Những người thu thuế và những người tội lỗi, tất cả mọi người đều vây quanh Chúa Giêsu để nghe Người giảng, và các người Biệt Phái và Kinh Sư lẩm bẩm rằng: ‘Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và ngồi ăn uống với chúng’ (Lc 15, 1-3). Ngay lập tức, Luca trình bày ba dụ ngôn được kết lại với nhau bởi cùng một chủ đề: con chiên lạc (Lc 15, 4-7), đồng tiền bị đánh mất (Lc 15, 8-10), đứa con bị mất (Lc 15, 11-32). Dụ ngôn cuối cùng này tạo thành chủ đề của trang Tin Mừng mà ta vừa nghe.
Bắt đầu tình tiết của trang Tin Mừng này đó chính là quyết định của người con thứ. Người kia có hai con trai. Đứa em xin chia phần gia tài thuộc về nó. Người cha chia tất cả gia tài cho hai con và cả hai đều nhận phần gia tài của chúng. Được nhận phần thừa kế không phải vì bất cứ công trạng nào của chúng ta. Đó là món quà cho không.
Ta thấy việc thừa kế những ân huệ của Thiên Chúa được phân chia cho tất cả nhân loại, cho dù là dân Do Thái hay dân ngoại, cho dù là Kitô hữu hay không phải là Kitô hữu. Tất cả mọi người đều nhận được một phần gia nghiệp của Chúa Cha. Nhưng không phải tất cả ai cũng chăm sóc nó trong cùng một cách.
Trong trường hợp tương tự, đứa con thứ bỏ nhà và trẩy đi miền đất xa xôi, và phung phí tiền bạc của mình vào cuộc sống trác táng, lìa xa người Cha. Vào thời thánh sử Luca, người con cả được tượng trưng cho các cộng đoàn phát xuất từ Do Thái giáo, và người con thứ được tượng trưng cho các cộng đoàn họp thành từ dân ngoại. Và ngày nay, người con út là ai, và người con cả là ai?
Đến một lúc nào đó, người con thấy mình đang sống hay nói đúng hơn là đã sống ảo tưởng và ý chí quay trở về nhà Cha. Nhu cầu sinh nhai khiến cho người thanh niên đánh mất sự tự do của mình và anh ta trở thành người làm công và phải chăn heo. Đây là tình trạng đời sống của hàng triệu người nô lệ trong Đế quốc La Mã vào thời thánh Luca. Tình huống khiến người con thứ hồi tưởng lại cuộc sống ngày xưa ở nhà Cha mình.
Cuối cùng, anh ta nhủ thầm những lời mà anh ta sẽ nói với người Cha: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha!” Người làm công làm theo lệnh của chủ, phải hoàn thành bổn phận của người tôi tớ. Người con thứ muốn tuân thủ lề luật y như người Biệt Phái và Kinh Sư của thời Chúa Giêsu muốn (Lc 15, 1). Sứ vụ của người Biệt Phái cáo buộc dân ngoại là những người đã cải đạo sang đạo Thiên Chúa của ông Abraham (Mt 23, 15). Vào thời của ông Luca, một số Kitô hữu xuất phát từ Do Thái giáo, tự mang cái ách của Lề Luật vào mình (Ga 1, 6-10).
Đỉnh của trang Tin mừng đó chính là niềm vui mừng của người Cha khi ông được gặp lại người con thứ của mình. Dụ ngôn nói rằng khi người con thứ còn ở đàng xa, mà người Cha đã trông thấy con mình, và chạy lại, ôm choàng lấy nó và hôn nó. Chúa Giêsu cho chúng ta ấn tượng rằng người Cha vẫn luôn ở bên cửa sổ để ngóng xem con mình có xuất hiện ở đầu ngõ không. Theo lối suy nghĩ và cảm xúc của con người, niềm vui mừng của người Cha dường như được phóng đại. Thậm chí ông ấy đã không để cho con mình nói hết những gì nó muốn nói. Không ai muốn nghe! Người Cha không muốn con của ông trở thành kẻ nô lệ cho mình. Ông muốn nó là con của ông!
Đây là Tin Mừng tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã đem đến cho chúng ta! Một chiếc áo mới, giày mới, nhẫn đeo vào tay nó, con bê, tiệc mừng! Trong niềm vui lớn lao của việc gặp gỡ, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy nỗi buồn to lớn của người Cha như thế nào vì sự mất mát con trai của ông. Thiên Chúa đã rất buồn và người ta bây giờ đã ý thức được điều này, khi nhìn thấy niềm vui bao la của người Cha vì được gặp lại con mình! Đó là niềm vui được chia sẻ với tất cả mọi người trong tiệc mừng mà ông đã chuẩn bị sẵn sàng.
Khi cha và người con thứ vui mừng thì ta lại thấy phản ứng của người con cả. Người con cả từ ngoài ruộng trở về và trông thấy trong nhà đang có yến tiệc linh đình. Anh ta từ chối bước vào nhà. Anh ta muốn biết chuyện gì đang xảy ra. Khi được biết lý do cho việc ăn uống linh đình, anh ta liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Anh ta tự cách biệt, anh ta nghĩ mình có quyền lợi riêng. Anh ta không thích việc yến tiệc và không hiểu được lý do cho sự vui mừng của Cha mình. Đây là dấu hiệu cho thấy anh ta đã không có sự gắn bó mật thiết với Cha, mặc dù thực tế là họ sống trong cùng một nhà.
Thật ra, nếu người con cả đã có liên hệ mật thiết với Cha mình, thì anh ta đã nhận ra được nỗi muộn phiền của người Cha vì mất đi người con thứ và sẽ hiểu được niềm vui mừng của ông khi thấy con mình trở về. Những ai sống rất lo lắng về việc tuân giữ Lề Luật Thiên Chúa, có nguy cơ quên chính Thiên Chúa! Người con thứ, dù rằng sống xa nhà, dường như biết về Cha nhiều hơn người con cả là kẻ sống chung nhà với ông. Bởi vì người con thứ đã có can đảm để quay trở về với Cha mình, trong khi đó người con cả thì lại không muốn bước vào nhà Cha. Anh ta không ý thức được rằng không có anh ta, người Cha sẽ mất đi niềm vui mừng. Bởi vì, anh ta, người con trưởng, cũng là con giống như người con thứ!
Và rồi ta nhìn thấy thái độ của người Cha và câu trả lời của người con cả. Người Cha đi ra và xin người con cả vào nhà. Nhưng anh ta trả lời: “Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn; còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó”.
Người con cả cũng muốn có một bữa tiệc và vui chơi, nhưng chỉ với nhóm bạn riêng của anh ta thôi. Không muốn vui với em mình và càng không muốn với Cha mình, và anh ta không gọi em mình là em, mà lại gọi “thằng con của cha kia”, như thể rằng người con thứ không còn là em của anh ta nữa. Và anh ta, người con cả, nói đến những cô gái mãi dâm. Đó là ác tâm mà anh ta diễn giải cuộc sống của em mình theo cách này. Đã bao nhiều lần, người Công Giáo chúng ta đã diễn giải tồi tệ về đời sống và tôn giáo của các kẻ khác! Thái độ của người Cha thì ngược lại! Ông chấp nhận người con thứ, nhưng cũng không muốn mất người con cả. Cả hai đều là phần tử của gia đình. Người này không thể loại trừ người kia!
Người Cha là người đã không chú ý đến lời đối đáp của người con thứ, thì trong cùng một cách, ông cũng không màng đến những lời của người con cả và nói rằng: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy!” Có phải là người con cả đã thực sự nhận thức được rằng anh ta luôn ở bên Cha mình và tìm thấy rằng sự hiện diện của anh ta là nguyên nhân cho niềm vui của cha mình không?
Ta thấy “Mọi sự của cha đều là của con!” cũng bao gồm cả người con thứ là người đã quay về nhà! Người con cả không có quyền phân biệt, và nếu anh ta muốn là con trai của người Cha, thì anh ta phải chấp nhận người cha như thế và không như là người cha mà anh ta muốn! Câu chuyện dụ ngôn không nói đến câu trả lời của người con cả ra sao sau đó. Điều đó tùy thuộc vào người con cả, mà chúng ta là người ấy, cho câu trả lời!
Ai nào đó có kinh nghiệm về sự dạt dào đáng ngạc nhiên và cho không về tình yêu Thiên Chúa trong đời sống của mình thì trở nên vui vẻ và mong muốn được truyền bá niềm vui mừng này cho những người khác. Hành động cứu độ của Thiên Chúa là nguồn mạch của sự vui mừng: “Hãy chung vui với tôi!” (Lc 15, 6-9). Và từ kinh nghiệm này về sự cho không của Thiên Chúa dấy lên ý nghĩa của tiệc mừng và niềm vui (Lc 15, 32).
Đến cuối câu chuyện dụ ngôn, người Cha đòi hỏi phải được hạnh phúc và ăn mừng, tiệc vui. Niềm vui mừng đang bị đe dọa bởi người con cả, là người không muốn vào nhà. Anh ta nghĩ rằng mình có quyền vui vẻ nhưng chỉ riêng với chúng bạn của mình và không muốn chia sẻ niềm vui mừng với tất cả các thánh viên của gia đình nhân loại. Anh ta đại diện cho những ai tự coi mình là công chính và tuân giữ lề luật, và những ai nghĩ rằng họ không cần bất kỳ một sự chuyển đổi nào.
Xin cho ta cảm được lòng thương xót của Cha để ta luôn yêu thương anh chị em đồng loại.
Tuệ Mẫn
