Lễ Vọng Phục Sinh

Lễ Vọng Phục Sinh

SUY NIỆM - Mar 31/03/2018

Lễ Vọng Phục Sinh

Rm 6:3-11118; Lc 24:1-12

TIN MỪNG PHỤC SINH

Tam Nhật Vượt Qua như một tam giác, mỗi cạnh mang một sắc màu riêng: Vàng, Tím, Hồng. Thứ Năm Tuần Thánh hân hoan với niềm vui, có sắc Vàng; Thứ Sáu Tuần Thánh ảm đạm u sầu, có sắc Tím; đêm Thứ Bảy Tuần Thánh và Chúa Nhật rộn rã nỗi mừng, có sắc Hồng. Màu sắc khác nhau nhưng vẫn hòa quyện trong một tổng thể kỳ diệu.

Đêm Canh Thức hôm nay là “mẹ các Đêm Canh Thức” như Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma số 20 viết, thì bàn tiệc Lời Chúa được chuẩn bị cho Đêm Canh Thức hôm nay chính là “phần căn bản” (QCTQ số 21). Chắc chắn không có một nghi thức phụng vụ nào mà bàn tiệc Lời Chúa lại dồi dào và phong phú như đêm hôm nay. Có tới tất cả chín bài, bẩy bài Cựu Ước và hai bài Tân Ước.

Thường thì Giáo hội khuyên cộng đoàn dân Chúa khi cử hành Đêm Canh Thức nên đọc đủ cả chín bài. Tuy nhiên, Giáo hội cũng tiên liệu nếu vì “hoàn cảnh mục vụ đòi buộc, có thể bớt số bài đọc Cựu Ước”. Bảy bài đọc Cựu Ước, ít nhất cũng phải đọc ba bài. Trong trường hợp “gấp rút” thì đọc ít là hai bài Cựu Ước; trong hai bài đó, “không bao giờ được bỏ bài trích sách Xuất hành chương 14”, tức là bài số ba.

Tin Mừng kể lại : Cả hai người cùng chạy ra xem mộ, mặc dầu người kia đến trước, song ông không vào trong mộ, mà nhường bước cho người anh cả là Simon Phêrô vào trước. Cả hai ông đều thấy mộ đã trống, và còn thấy dấu chứng khác của việc Chúa đã Phục sinh, đó là những tấm vải và khăn liệm còn để ở đó. Khăn liệm còn nguyên ở đó : chứng tỏ không phải xác Chúa bị mất trộm, vì nếu có người lấy đi, thì họ sẽ đem cả những tấm vải đó theo, chứ không để lại làm gì.

Hơn thế nữa, các ông còn thấy các tấm khăn che đầu, che mặt và những băng vải, không hề bị xáo trộn, mà được gấp lại gọn gàng và để riêng thứ nào vào thứ đó. Như thế, câu nói hồ nghi của bà Maria Macdala : Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, là không có cơ sở.

Chúa Giêsu hôm nay đã bước qua cuộc sống tạm đời này để trở về cuộc sống vĩnh cửu trên trời. Sự sống lại của Ngài là niềm hy vọng lớn lao cho kiếp người chúng ta. Từ nay chúng ta không còn lo lắng về bước đường tương lai “chết rồi đi đâu?”. Từ nay chúng ta có một con đường để đi, để tiến về quê trời. Đó là con đường Giêsu. Con đường vâng phục thiên ý Chúa Cha. Con đường yêu thương và phục vụ cứu đời.

Khi Chúa bước ra khỏi mồ, không có môn đệ nào chứng kiến. Ngôi mộ trống là khởi điểm cho những câu hỏi được đặt ra, khiến họ hồi tưởng quá khứ để suy tư những lời Chúa đã nói trước. Thế rồi, họ được gặp Chúa phục sinh. Lúc đầu họ còn ngờ vực, nhưng rất nhanh sau đó, họ đã nhận ra Người. Họ còn được đàm đạo và ăn uống với Người. Nhờ đó mà họ có cảm nhận rất sâu sắc về Đấng Phục sinh.

Ta còn được “nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết” và “chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6, 5). Quả là kỳ diệu vô cùng! Và còn hơn thế nữa: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6, 6-7).

Kinh Thánh còn là sách ghi lại lời chứng của các tông đồ về biến cố quan trọng này. Chúng ta lật lại sách Công vụ Tông đồ sẽ tìm thấy những lời chứng mạnh mẽ của Simon Phêrô về việc Chúa Phục sinh : Chúa đã sống lại thật ! Bài đọc một thuật lại bài giảng của Phêrô tại nhà ông Cornêliô.

Trong bài giảng này, Phêrô đã tóm lược cả cuộc đời Chúa Giêsu và sứ điệp của Ngài. Thánh nhân còn khẳng định : Như quý vị biết rõ, biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa về Đức Giêsu Nazareth… và chúng tôi xin làm chứng về những việc Người đã làm. Phêrô làm chứng rằng, Chúa Giêsu đã bị người Do Thái giết và treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy và xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân đã được tuyển chọn.

Niềm tin của chúng ta rạch ròi chứ không mơ hồ: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6, 8). Niềm tin đó của Công giáo cũng không hề mù quáng hoặc mê tín như người vô thần tưởng. Thánh Phaolô còn cho chúng ta biết thêm: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6, 9-11).

Chính lúc con người tưởng rằng cuộc đời chỉ là một trò phi lý, một mớ bòng bong vô vọng, Thiên Chúa ra tay can thiệp để mở toang cánh cửa hy vọng, để một luồng sáng mới soi chiếu cho nhân loại. Luồng ánh sáng này đã được trao ban, nhưng nhân loại đã nhiều lần khép lại hoặc đã bưng kín. Giáo hội đã đón nhận ngay được ánh sáng này nên đã thinh lặng ngồi ôn lại dòng lịch sử thánh, một lịch sử bắt nguồn từ Thiên Chúa và sẽ đưa mọi sự về với Ngài. Giáo hội cảm nhận thật rõ kinh nghiệm này khi lắng nghe lại lịch sử thánh, nhất là giai đoạn lịch sử kể lại sự kiện Thiên Chúa uy quyền ra tay giải phóng dân Chúa ra khỏi đất Ai-cập.

Đây là một sự kiện mà dân Chúa sẽ không bao giờ được phép quên. Dân Chúa sẽ thấy như trước mắt quyền năng của một Thiên Chúa trên mọi lịch sử và mọi sức mạnh. Ngài chính là Chúa và là Chủ Tể. Và giờ đây, Giáo hội là dân thánh mới đã nhận ra chính Vị Thiên Chúa đó, Đấng đã ra tay lật tung nấm mồ, nơi an nghỉ của “Con Yêu Dấu” và dùng Quyền Năng (Thánh Thần) để phục sinh Người. Ánh sáng phục sinh đã ùa vào thế gian như một sức mạnh vũ báo, trả lại niềm hy vọng bất diệt cho con người. Ha-lê-lui-a từ nay sẽ trở thành một tiếng khải hoàn ca bất tận, sẽ được hát, được ngân vang mãi mãi để xóa tan đi những bóng đêm lạnh giá vô vọng của kiếp người. 

Cảm nghiệm ơn Phục Sinh rồi, các môn đệ không còn có thể ngồi yên trong căn phòng đóng kín cửa nữa. Các ngài mở tung cửa, hăng hái ra đi đem Tin Mừng Phục Sinh chia sẻ cho mọi người. Các ngài muốn vực dậy những mảnh đời đang chết dần mòn. Các ngài muốn phục hồi những tâm hồn đang héo úa. Các ngài muốn thế giới biến đổi trong một đời sống mới, tươi vui, hạnh phúc, dồi dào hơn.

Để đón nhận được ơn Phục Sinh và để ơn Phục Sinh có thể thấm vào mọi ngõ ngách trong tâm hồn, ta phải cộng tác với Chúa, tẩy trừ mọi lực lượng sự chết ra khỏi tâm hồn ta. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt vì ta phải chiến đấu với chính bản thân mình. Nhưng với ơn Chúa Phục Sinh trợ giúp, chắc chắn ta sẽ toàn thắng.

Khi mừng lễ Phục sinh, ta được mời gọi trở thành nhân chứng của sự kiện Chúa sống lại. Tuy vậy, để có thể làm chứng về Đấng Phục Sinh, ta phải biết Người, phải gặp Người và cảm nhận được sự hiện diện của Người trong đời ta. Ta không thể làm chứng về một người hay một sự việc mà ta không biết chắc. Làm nhân chứng cho Đấng Phục Sinh hôm nay đôi khi phải chấp nhận là kẻ “ngược dòng” trong một xã hội xô bồ, phức tạp. Các tông đồ và các thánh tử đạo sau này đã những người dám đem mạng sống mình để “đặt cược” cho lời chứng về Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại. Một chứng từ được cam kết bằng mạng sống sẽ có tính thuyết phục mạnh mẽ và làm cho người khác tin. Xác tín nơi Đấng Phục Sinh, các tông đồ khi bị đánh đòn và bạc đãi, lại “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5, 41).

Tuệ Mẫn