PHỤNG VỤ MÙA THƯỜNG NIÊN VÀ CÁC LỄ TRỌNG KÍNH CHÚA P2

PHỤNG VỤ MÙA THƯỜNG NIÊN VÀ CÁC LỄ TRỌNG KÍNH CHÚA P2

Tài liệu tham khảo - Mar 24/03/2014

Như chúng ta đã nói, hình thức phụng vụ chính để cử hành lễ Chúa Ba Ngôi vẫn dựa vào lời tiền tụng của sách Bí tích Gélasien cổ.

PHẦN II

TRONG NGHI THỨC PHỤNG VỤ ROMA
 
Trong phần thứ nhất, chúng ta đã nói về những lễ kính Chúa được cử hành trong gia đình phụng vụ, nghĩa là những lễ được cử hành trong cả các nghi thức phụng vụ Đông và Tây phương. Ở phần thứ hai này, chúng ta nói đến những lễ kính Chúa được cử hành chỉ trong nghi thức phụng vụ Roma.
Trong nghi thức phụng vụ Roma, có 4 lễ kính Chúa.

1.- Lễ Chúa Ba Ngôi

a.- Nguồn gốc và sự phát triển của ngày lễ

Trong sách các Bí tích Gélasien khoảng thế kỷ thứ VIIIe xuất hiện một lời Tiền tụng được đọc trong Chúa nhật trong tuần Bát nhật ngày lễ Hiện Xuống : Qui cum unigenito Filio tuo et sancto Spiritu (unus es Deus). Lời Tiền tụng này khai mở cho thấy giá trị liên kết của mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi, khi khẳng định những ngôi vị trong “ba ngôi và sự duy nhất của bản chất của họ”[1]. Đây là một lời nhắc lại có từ xưa và đặc biệt nhất về mầu nhiệm Ba Ngôi vào trong ngày lễ.

Vào năm 800, Alcuin de Tours đã soạn một tập sách mỏng về những lễ cho những ngày trong tuần (bát nhật) và ở đó có một lễ Missa de sancta Trinitate[2]. Tập sách này đã có một ảnh hưởng thật lớn ngày sau đó, nhất là trong những nhà thờ mà không thể tự có một sách bí tích hoàn trọn. Ngay sau đó, lễ về Chúa Ba Ngôi được liệt vào hàng ngũ những lễ ngoại lịch và được đặt vào trong sách các bí tích ở phần đầu hay phần cuối của chuỗi những Chúa nhật sau lễ Hiện Xuống[3].

Vào đầu thế kỷ thứ Xe, Etienne, giám mục Liège, đã soạn một bộ kinh nguyện bổ sung nhằm làm cho ngày lễ được hoàn trọn. Các yếu tổ được thêm vào trong từng phần tạo nên một cuộc cử hành phụng vụ đầy đủ về lễ Ba Ngôi Thánh.

Tuy nhiên, mặc cho sự lan rộng của các hình thức cử hành này, Đức Giáo Hoàng Alexandre II (+ 1073) khẳng định rằng, “trong nghi thức Roma, không cần phải giành một ngày đặc biệt để tôn vinh Ba Ngôi Chí Thánh, bởi vì, nói cách khác tước hiệu này đã được tôn vinh trong mọi ngày khi chúng ta đọc trong thánh vinh lời Vinh Danh Cha…”[4]. Một thế kỷ sau, Đức Giáo Hoành Alexandre III (+1181) đã giữ lại (quan điểm này) bằng một ngôn ngữ rõ ràng. Mặc cho sự do dự của Tông Toà, vẫn không thể ngăn cản được sự phát triển nhanh chóng của lễ này trong các miền lãnh thổ khác nhau, đặc biệt trong các đan viện. Chúng ta tìm thấy ở đan viện Cluny vào năm 1030. Đan viện Xitô đã thiết lập lễ này vào năm 1271. Tuy nhiên, vẫn thiếu một sự hoà hợp trong việc chọn lựa ngày tháng. Chính vì thế, đã xẩy ra việc, một vài nơi đã cử hành lễ này vào chính ngày Bát nhật của lễ Hiện Xuống, những nơi khác vào Chúa nhật trước mùa Vọng. Vào năm 1334, Đức Giáo Hoàng Gioan XXII đã ấn định lễ này vào Chúa nhật sau lễ Hiện Xuống, và truyền áp dụng cho tất cả phụng vụ Tây phương. Sách lễ Tridentin đã giữ lại nghi thức thánh lễ theo Alcuin, nhưng phần phụng vụ kinh nguyện thì theo Etienne de Liège đã được sửa lại.

Mặc dù Giáo hội Đông phương không có lễ Chúa Ba Ngôi, nhưng cũng đã giành một phần lớn đặc biệt cho những bài hát trong ngày Chúa nhật Chúa Hiện Xuống để suy niệm về mầu nhiệm này. Việc tưởng niệm Chúa Thánh Thần được sai đến với các tông đồ được cử hành vào ngày hôm sau[5].

b.- Việc cử hành ngày lễ

Như chúng ta đã nói, hình thức phụng vụ chính để cử hành lễ Chúa Ba Ngôi vẫn dựa vào lời tiền tụng của sách Bí tích Gélasien cổ. Từ nguồn này, những lời nguyện khác đã được soạn thảo. Tuy nhiên, những chuỗi của ba bài đọc được phát triển nhằm tạo sự hòa hợp cho ý nghĩa của ngày lễ. Những bài đọc trong sách Xuất Hành (năm A) và Đệ nhị Luật (năm B) nói đến về Thiên Chúa: Duy nhất, Tình Thương; bài đọc trong sách Châm Ngôn (năm C) mời gọi chúng ta nghe lời của Đấng Khôn Ngoan của Thiên Chúa, như một người sống động. Bài đọc sách tông đồ khơi dậy hành động của một cá nhân trong Ba Ngôi Thánh trong đời sống tín hữu. Bài Tin mừng liên quan đến việc Chúa Cha sai Chúa Con (năm A), loan báo về cuộc xuất hiện của Chúa Thánh Thần ( năm C) và sứ vụ làm phép rửa cho muôn dân nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần được trao cho các Tông đồ bởi Đức Kitô (năm B).

Điệp ca của Giờ Kinh Phụng vụ được lấy theo hình thức Kinh nguyện Trento: Gloria tibi, Trinitas aequalis, una Deitas. Bài đọc giáo phụ được lấy ra từ thư của thánh Athanase, người đã bảo vệ tín điều tại Công đồng Nicée.
 
2.- Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô

a.- Nguồn gốc của ngày lễ

Lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô được cử hành lần đầu tiên tại Liège năm 1247 nhờ những khẳng định thị kiến của một nữ tu Julienne du Mont-Cornillon. Trong một thị kiến được nói đến vào năm 1208, Thiên Chúa đã làm cho nữ tu này hiểu được rằng, cần phải có hằng năm một lễ để tôn kính Bí Tích Bàn Thờ. Lời mặc khải cần được đón nhận, sau những do dự, cuộc đón nhận đã diễn ra cách nhẹ nhàng bởi Giám mục Liège và nhất là trưởng phó tế Jacques Patanléon, sau đó được gọi trở thành Giáo Hoàng Urbain IV (1261). Năm 1264, Giáo Hoàng Urbain IV đã bị ấn tượng bởi phép lạ thánh thể sống động tại Bolsena gần Orvieto, nơi ngài đã sống; chính ngài đã công bố sắc lệnh Transiturus và bởi sắc lệnh này thiết lập một lễ trọng mới được cử hành để tôn kính Bí Tích Thánh Thể vào ngày thứ 5 sau bát nhật Chúa Hiện Xuống. Julienne đã đề nghị một tu sĩ trẻ của Mont-Cornille soạn thảo một kinh nguyện cho lễ mới này[6]. Tuy nhiên, bản soạn thảo mới này lại trở thành  một bản văn khác hoàn toàn so với những gì được gởi đi như sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng, bản văn này được dùng cho đến ngày nay. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định, truyền thống cho rằng, lễ Cibavit và Kinh Nguyện Sacerdos là tác phẩm của thánh Thomas Aquino.

Đó là lần đầu tiên một Đức Giáo Hoàng đã truyền đạt có hiệu lực về một lễ mới cho tất cả Giáo Hội Tây phương. Từ lâu, nó cũng được gọi là Nova sollemnitas. Người ta cũng gọi lễ này là Lễ Mình Thánh Chúa, Lễ Thiên Chúa hay Lễ Mình và Máu châu báu, lễ trọng thể về Mình và Máu Chúa Kitô[7].

Hai tháng sau khi thiết lập lễ mới này, Đức Giáo Hoàng Urbain IV qua đời và sắc lệnh Transiturus đã không đạt được hiệu quả bao nhiêu. Đức Giáo Hoàng Clement V (1311-1312), kế đến Đức Giáo Hoàng Gioan XXII (1317) đã tiếp tục làm cho lễ này được phổ biến. Vì thế, lễ trọng thể kính Mình và Máu Chúa Kitô được đón nhận cách rộng khắp. Chẳng ai trong ba Đức Giáo Hoàng khi cổ vũ lễ này mà không nói đến một cuộc rước thánh thể. Trong rất nhiều nơi, Thánh Thể được mang theo trong những cuộc rước Lá hoặc thuyên chuyển một cách trọng thể từ ngôi mộ biểu tượng Chúa Kitô đến gian cung thánh vào buổi sáng Phục Sinh. Nói cách khác, việc rước kiệu Bí tích Thánh Thể đã xuất hiện cách không liên tục trong những thế kỷ XIVe và XVe. Cho đến thể kỷ XVe, lễ này được đón nhận tại Rome.

b.- Việc cử hành ngày lễ

Thánh lễ và Kinh nguyện về lễ Mình và Máu Chúa Kitô được nhận biết cách khá đầy đủ để không cần một sự giới thiệu nào khác nữa. Vào năm 1970, Thánh lễ được thấy có 9 bài đọc. Các nhà phụng đã chọn lựa trong Cựu ước những bài đọc liên quan đến việc hiến dâng bánh của Thượng Tế Melchisédech (năm C), cho việc thánh hiến Giao ước ở chân núi Sinaï (B) và việc thu lượm manna trong sa mạc (năm A). Bài đọc thứ hai được mượn các chương 10 và 11 trong Thư của thánh Phaolô gởi tín hữu Corintô (năm A và B) và chương 9 trong Thư gởi tín hữu Do Thái (năm C). Tin mừng nhắc lại phép lạ hoá bánh ra nhiều (năm C), bài giảng của Chúa Giêsu về bánh sự sống (năm A) và Bữa Ăn cuối cùng (năm B). Hai hình thức phụng vụ được đề nghị cho phần tiền tụng : đó là vào ngày thứ năm tuần thánh và một ngày khác nữa được soạn mới hoàn toàn.

Trong phần Kinh Nguyện, những khiá cạnh khác của mầu nhiệm Thánh Thể được diễn tả một cách ít ỏi. Điệp ca của Thánh Ca Tin mừng Magnificat Kinh chiều 2 đề cập : recolitur memoria passionis eius (lời tung hô thánh thể được dẫn đến quá khứ), mens impletur gratia (thực hiện một hiện tại) et futuroe glorioe nobis datur (ban cho những hành trang cho tương lai).
 
3.- Lễ kính Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu

a.- Nguồn gốc và sự phát triển của ngày lễ

Nếu việc chiêm niệm về cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu đã nuôi sống lòng nhiệt thành về các mầu nhiệm từ thời Trung Cổ, và ngay cả thời cổ xưa, thì lễ kính Trái Tim Rất Thánh Chúa Giêsu chỉ xuất hiện từ nửa thế kỷ thứ 17. Lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 10 năm 1672, một linh mục miền Normand, nước Pháp tên Gioan Eudes đã cử hành lễ này. Một vài năm sau, những mặc khải được đón nhận từ Thiên Chúa bởi một nữ tu Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, Maguerite-Marie Alacoque (1675) đã đóng góp cho việc làm lan rộng hình thức tôn kính này.

Tuy nhiên, lễ kính Trái Tim Rất Thánh Đức Giêsu được biết đến một cách thực sự lộn xộn về các hình thức cử hành. Từ năm 1672 đến 1840, người ta đã đếm được hơn 30 mẫu phụng vụ trong các địa phận nước Pháp hoặc trong các gia đình tu sĩ. Từ năm 1765 đến 1970, tại Rome đã chứng thực 4 mẫu. Chúng ta có trước tiên là lễ Miserebitur, được chấp thuận cho Pologne và Bồ Đào Nha (1765); kế đến là lễ Egredimini do Đức Pio VI chuẩn thuận cho Vénétie, Autriche và Tây Ban Nha (1778). Cùng với lễ Miserebitur, Đức Giáo Hoàng Pio IX đã làm cho lễ về Trái Tim Rất Thánh lan rộng khắp Giáo hội latin (1856), tuy nhiên, ngài cũng để cho lễ Egredimini và Kinh Nguyện được gắn bó vớí Phần Riêng ở một số địa phương.

Năm 1929, Đức Pio XI đã thực hiện việc biên soạn mới sách lễ Cogitationes và một kinh nguyện. Cuối cùng, vào năm 1970, lễ Cogitationes được cải tạo và ấn định trong một chuỗi của 3 bài đọc. Về lễ thứ tư theo truyền thống Roma, nếu cần phải thêm vào thì đó là lễ Trái Tim Thánh Thể của Chúa Giêsu (Sciens Iesus), được chứng nhận vào năm 1921 cho tất cả các địa phận mà họ đã thỉnh cầu. Lễ này bị loại bỏ vào năm 1960.

Việc có rất nhiều hình thức phụng vụ liên quan đến lễ này đã tạo ra những khó khăn mà chúng ta gặp gỡ để ấn định với một sự chính xác chủ đề của ngày lễ. Trong sự khác nhau đó, tồn tại hai hình thức phổ biến, vốn làm nổi bật yếu tố đạo đức trong thời hiện đại đối với Trái Tim Rất Thánh, như những ý tưởng được nói đến bởi thánh Gioan Eudes và thánh Marguerite Marie : hành động tạ ơn vì sự giàu sang không thể nói hết của Đức Kitô (Ep 3,8), và sự chiếm ngắm về Trái Tim bị đâm thâu (Ga 19,37). Lễ Egredimini (lời tiền tụng về lễ Sinh Nhật) liên hệ với hình thức phổ biến đầu tiên; lễ Miserebitur (lời tiền tụng về lễ Suy tôn giáo) thuộc về hình thức thứ hai. Đó cũng là tinh thần để chuẩn bị, giữ chủ đạo trong thánh lễ và kinh nguyện được soạn nhờ ý lệnh của Đức Pio XI.

b.- Việc cử hành ngày lễ

Trong số 9 bài đọc, lễ mới Cogitationes có thể nhận những bài đọc được đề nghị trong Sách lễ Roma và những Sách lễ Pháp. Đặc biệt chúng ta tìm thấy ở đó dụ ngôn về các Chiên lạc được tìm thấy (năm C); lời mời Chúa Giêsu : “Hãy đến với ta, hỡi tất cả những ai đang gánh nặng” (năm A) và bản văn về cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô chết trên thập giá (năm B). Hai lời nguyện được đề nghị cho phần tổng nguyện là những hình ảnh giới thiệu về hai hình thức phổ biến liên quan đến lòng mộ đạo kitô giáo đối với Trái Tim Chúa Giêsu: hành động tạ ơn về những điều lạ lụng của tình yêu Chúa Cha đối với con người, và những sự chuẩn bị đối với tình yêu bị tổn thương. Lời tiền tụng nhắc đến truyền thống mà từ thời các Giáo phụ đã thấy Giáo hội được sinh ra từ cạnh sườn của Đức Giêsu, cũng giống như Eva đã được tạo nên bởi xương sườn của Adam đang ngủ sâu; hình ảnh trào tràn của máu và nước là biểu tượng của bí tích thanh tẩy và thánh thể.

Đây cũng cùng chủ để được phát triển bởi thánh Bonaventura với một sự trìu mến đầy cảm xúc được thấy trong Kinh Sách. Thánh thi về Laudes Iesu, auctor clementioe diễn tả cùng một tâm tình tôn giáo, nó giống như một bài thơ được chọn lựa từ những khổ thơ nổi tiếng Jubilus, mà từ lâu đã được cung cấp bởi thánh Bernard[8].
 

4.- Lễ Chúa Kitô, vua vũ trụ

a.- Nguồn gốc và tương quan của lễ

Lễ Chúa Kitô-Vua được thiết lập năm 1925 bởi Đức Giáo Hoàng Pio XI, và được xác định cử hành vào Chúa nhật trước lễ trọng Các Thánh. Tuy nhiên, Giáo hội đã chẳng đống ý ngày này để cử hành vương quyền của Đức Kitô: bởi vì vương quyền của Đức Kitô-Vua vốn đã được thấy trong lễ Hiển Linh, Phục Sinh và Lên Trời. Nếu Đức Giáo Hoàng Pio XI đã thiết lập lễ này, là bởi vì, giống như lời giải thích của ngài trong thông điệp Quas primas[9], trong một mục đích mang tính giáo dục tâm linh. Trước những tiến triển của chủ nghĩa vô thần và tục hoá của xã hội, Đức Giáo Hoàng đã muốn khẳng định vương quyền của Đức Kitô trên con người và trên các thể chế xã hội. Một vài bản văn kinh nguyện đã bày tỏ điều này : Te nationum proesides/ Honore tollant publico/ Coolant magistri, iudices/ Jeges et artes exprimant. Trong phần thánh thi của kinh chiều có thêm : Submissa regum fulgeant/Tibi dicata insignia.

Năm 1970, Giáo hội đã muốn làm cho lễ này được bày tỏ rõ hơn khía cạnh hoàn vũ và cánh chung của vương triều Đức Kitô, vì thế, lễ này trở thành lễ Đức Kitô « Vua vũ trụ » và được cử hành vào Chúa nhật cuối cùng của Mùa Thường Niên (per annum). Với lễ này, chúng ta thấy nhắc lại một điểm đã được ghi dấu trong Mùa Vọng, trong một viễn cảnh về việc Chúa xuất hiện trong vinh quang. Sự chuyển động của phần thứ hai của lời tổng nguyện bày tỏ cách rõ ràng sự thay đổi liên quan đến chủ đề của ngày lễ. Trong lời cầu nguyện năm 1925 chúng ta đọc : Lạy Chúa, « hãy làm cho hoà hợp mọi gia đình của dân Chúa do vết thương của tội lỗi gây lên. Xin làm cho họ biết vâng theo quyền năng yêu thương », vào sự trị vì của Đức Kitô. Bản văn được thay đổi đã cầu xin Chúa làm cho « tất cả mọi thọ tạo, được tự do trong sự vâng phục, nhận biết quyền năng của Đức Kitô và tôn vinh người không ngơi ».

b.- Việc cử hành ngày lễ

Giống như những ngày lễ khác về Thiên Chúa, lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ có thuận lợi trước hết mở rộng với nhiều bài đọc. Trong Tin mừng, nhằm khẳng định về vương triều của Đức Kitô trước Philato (năm B) đã được thêm vào lời loan báo về Con Người trong vinh quang khi Người đến phán xét mọi người về tình yêu của họ đối với tha nhân (năm A) và cách nhìn về Đức Kitô trên thập giá, vua của người Do thái bị đội vòng hoa (năm C). Bài đọc thứ nhất trong sách Ezekiel (vua-mục tử), từ sách Đaniel (Con Người được trao quyền năng cai trị, vinh quang và vương triều) và từ sách thứ hai Samuel (việt tấn phong Đavit làm vua). Trong bài đọc thứ hai theo thánh Phaolô suy tôn chiến thắng trên sự chết (năm A) của Đức Kitô, trong Người tất cả mọi sự được hoàn thành (năm C), và cái nhìn Khải Huyền công bố về Đấng đến trong đám mây (năm B). Lời tiền nguyện được soạn vào năm 1925 thuộc về một cuộc trở lại, không có sự khác biệt nào cả.

Trong Kinh Nguyện Phụng vụ, hai thánh thi được soạn vào năm 1925 bởi một tu sĩ Dòng Tên V. Genovesi được giữ lại và đôi khi có sự điều chỉnh về mặt ngữ pháp, ý tưởng cho chặt chẽ. Giáo Hội đã thêm vào Iesu, rex admirabilis, được lấy ra từ Iesu auctor clementiae của bài Jubilus của thánh Bernard. Bài đọc giáo phụ mườn của Origène, nhắc lại rằng vương quyền của Đức Giêsu thuộc về bên trong : « Chúng ta mang những hoa trái của Thánh Thần : cũng vậy, như trong một thiên đường tâm linh, Thiên Chúa đã tự đồng hành trong chúng ta, trị vì trên chúng ta cùng với Đức Kitô của Người ».
 
———————————————————————
 
Theo:
Deschusses Jean, Le sacramentaire grégoire, t. 2, Fribourg, 1979 (Spicilegium Friburgense 24), các số 1806-1810.
Chavasse Antoine, Le sacramentaire gélasien, (Vaticanus Reginensis 316), Paris, Tournai, Desclée & C°, 1958.
Gy Pierre Marie, « L’Office du Corpus Christi et la théologie des accidents euchristiques », Revue des sciences philosophiques et théologiques 66, 1982, tr. 81-86.
Martimort Aimé Georges, L’Eglise en prière, édition nouvelle, t.4, Paris, Desclée, 1984, p. 112-116.
 
 

 

[1] Ge, số 680, xem trong Antoine Chavasse, Le sacramentaire gélasien, (Vaticanus Reginensis 316), Paris, Tournai, Desclée & C°, 1958, tr. 256.
[2] Jean Deschusses, Le sacramentaire grégoire, t. 2, Fribourg, 1979 (Spicilegium Friburgense 24), các số 1806-1810. Chúng tôi sẽ ghi ở đây phần soạn lễ của Alcuin về Missa de sancta Trinitate :
Số 1086 : Omnipotens sumpiterne deus qui dedisti famulis tuis in confesssione uerae fidei aeternae trinitatis gloriam agnoscere, et in potentia maiestatis adorare unitatem, quaesimus ut eiusdem fidei firmitate, ab omnibus semper muniamur aduersis. Per.
Số 1087 : Super oblata. Sanctifica quaesumus domine deus per tui sanctinominis inuocationem huius oblationis hostiam, et per eam nosmetipsos tibi perfice munus aeternum. Per.
Số 1808 : Praefactio. UĐ ae.d. Qui cum unigenito filio tuo et spiritu sancto unus es deus, unus es dominus. Non in unius singularitate personae, sed in unius trinitate substantiae. Quo denim de tua Gloria reuelante te crediums, hoc de filio tuo, hoc de spiritu sancto, sine differentia discretionis sentimus. Vt in confessione uerae sempiternaeque deitatis, et in personis proprietas, et in essenti            a unitas, et in maiestate adoretur aequalitas. Quam laudant angeli atque  archangeli, cherubim quoque et seraphin incessabili uoce oriclamant dicentes. Sanctus.
Số 1089 : Ad complendum. Proficiat nobis ad salutem corporis et animae domine deus huis sacramenti susceptio, et sempiterna sanctae trinitatis confessio. Per.
Số 1810 : Super populum. Domine deus pater omnipotens, famolus tuae maiestati subiectos, per unicum filium tuum, in uirtute sancti spiritus, benedic et protege, ut ab omni hoste securi, in tua iugiter laude laetemur. Per
[3] Sách lễ Vetus Missale romanum monasticum Lateranense (Italie centrale, XIIIe siècle), xuấn bản bởi Azevedo, Rome 1752, cho thấy chẳng hạn : một mẫu về ngày lễ Dominica de Trinitate sau Chúa nhật 24 (tr. 156)
[4] Bernold de Constance, Micrologus, 60 ; PL 151, 1019.
[5] E. Mercenier, op.cit., cuốn 2/2, tr. 361-362.
[6] C. Lambot-I.Franssen, L’Office de la Fête-Dieu primitive…, tr. 39-97.
[7] Pierre Marie Gy, L’Office du Corpus Christi… Cũng như L’Office du Corpus Christi et la théologie des accidents euchristiques, trong Revue des sciences philosophiques et théologiques 66, 1982, tr. 81-86.
[8] A. Wilmart đã đưa ra bản văn phê bình trong Le ‘Jubilus » dit de saint Bernard, Rome Edizioni di storia e letteratura, 1944 (= El 57,1943)
[9] Ngày 11 tháng 12 năm 1925, AAS 17, 1925, tr. 593-610. Bản văn kinh nguyện và thánh lễ ở trang 655-668.

 

 

Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Văn Hiển, OP.

Nguồn tin: Học Viện Đaminh