PHẦN II: HẠNH TÍCH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO (101 – 116)

PHẦN II: HẠNH TÍCH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO (101 – 116)

Hạnh Tích Các Thánh - Mar 24/03/2014

Sức lực cha bị suy giảm. Nhưng cha còn có thể chịu được hơn nữa. Chúa Giêsu là Chúa mà đã chịu bao cực hình cay đắng đến cực độ để cứu chuộc chúng ta. Do đó, cha cũng sẵn lòng chịu mọi hình khổ để được nên giống Chúa. Con hãy cầu nguyện cho cha vững lòng tin yêu và chịu mọi khổ nhục vì Chúa. Được chết vì Chúa là hạnh phúc nhất đời, con ạ!

PHẦN II: HẠNH TÍCH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO (101 – 116)

Ngày 26 tháng 11

Thánh Tôma Đinh Viết Dụ

Linh mục (1783-1839)

Thánh Tôma Đinh Viết Dụ sinh năm 1783 tại làng Phú Nhai, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngay từ bé, cậu Dụ đã yêu mến lần hạt Mân Côi kính Đức Mẹ và cậu ước mong được dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa trong bậc tu trì. Để đạt được ước nguyện, cậu đã ra công gắng sức học hành tốt, có điểm cao; nhờ vậy mà cậu Tôma Đinh Viết Dụ được bề trên nhận vào chủng viện học la tinh rồi triết học và thần học. Khi đã hoàn tất chương trình học vấn của nhà trường, thầy Tôma Đinh Viết Dụ được thụ phong linh mục. Vì ngay từ nhỏ, cha Tôma Dụ đã có lòng yêu mến kinh Mân Côi và lòng sùng kính Mẹ Maria cách đặc biệt nên cha đã xin vào dòng Đa Minh.

Được nhận vào dòng Đa Minh, cha qua Nhà Tập rồi ngày 21 tháng 12 năm 1814, cha tuyên khấn ba lời khấn của dòng Đa Minh và cha chính thức trở thành linh mục dòng Đa Minh, lúc ấy cha mới 31 tuổi. Với tuổi 31, cha Tôma Đinh Viết Dụ còn đầy nhiệt huyết, cha xông xáo vào những nơi hang cùng ngõ hẻm để đem Tin Mừng của Chúa đến cho mọi thành phần trong xã hội. Cha thu phục được nhiều linh hồn về với Chúa và tận tình giúp đỡ mọi người trong việc tông đồ Tuy tận tụy với công việc mục vụ như thế, nhưng cha không hề sao lãng bổn phận thiêng liêng đối với Chúa và đời sống tu trì đối với anh em trong Dòng..Những người biết Cha, đều công nhận Cha là một tu sĩ gương mẫu về đời sống chiêm niệm, ngày đêm đều chìm đắm trong suy niệm và luôn kết hợp với Chúa ngay trong những giờ phút hoạt động bên ngoài. Bạn hữu đều tặng Cha danh hiệu “Thánh Brunô Việt Nam”. Thánh Brunô nổi tiếng là vị thánh làm việc cũng hăng mà cầu nguyện thì không biết mệt mỏi.

Cha Tôma Đinh Viết Dụ đã được Đức Giám mục bổ nhiệm coi sóc giáo xứ Đông Xuyên, rồi giáo xứ Quất Lâm. Năm 1838, Đức Cha lại bổ nhiệm Cha tới xứ Liễu Đề thay thay thế Cha Phêrô Tuần đã bị bắt.

Ngày 20 tháng 5 năm 1839 tổng đốc Trịnh Quang Khanh theo lệnh vua Minh Mạng cấm đạo, đưa 800 binh lính tới bao vây làng Liễu Đề, truy lùng bắt Đức Cha Hermosilla Liêm, vì có người tố cáo Đức Cha Hermosilla Liêm đang trú ẩn tại làng này. Binh lính đã ra công ra sức lục soát khắp nơi trong làng nhưng không bắt được Đức Cha vì Ngài đã trốn thoát rồi. Khi ấy chỉ còn cha Tôma Dụ vừa làm lễ xong tại nhà bà Anê Thu, đươc cấp báo binh lính đã vây kín chung quanh làng. Nhưng cha không kịp trở về nơi trú ẩn, cha liền cải trang thành người làm vườn qua nhà bên cạnh cặm cụi ngồi nhổ cỏ. Quan quân đi qua không để ý tới ông già làm cỏ trontg vườn. Cuối cùng người đi tố cáo nhận diện được Cha, anh đã hô lớn:

“Ông này là đạo trưởng”.

Thế là quân lính xông tới bắt trói cha, dẫn cha ra đình làng nộp cho quan tổng đốc, lúc ấy quan đang ngồi đợi ở đình làng. 23 Quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh vui mừng hỏi cha:

– Ông có phải là đạo trưởng không?

Cha bình tĩnh và thẳng thắn trả lời:

– Thưa phải, tôi là đạo trưởng có nhiệm vụ coi sóc các tin hữu ở đây.

Quan lại hỏi cha về Đức Cha Thừa Sai Hermosilla Liêm và các linh mục khác hiện nay ở đâu. Cha làm thinh, không trả lời. Quan nổi sùng cho lính lục soát khắp người của cha, xem có tiền bạc giấy tờ gì không. Nhưng quan càng thất vọng vì trên người của cha chỉ có duy một cỗ tràng hạt Mân Côi. Quan cho lệnh tịch thu cỗ tràng hạt và đánh cha 21 roi Cha can đảm chịu đau đớn, không một lời kêu la oán trách. Bà Anê Thu vì không kịp cất giấu đồ lễ nên cũng bị bắt trói và giam tại đình làng 24 tiếng đồng hồ, sau đó quan ra lệnh tha cho bà Thu về. Còn cha thì phải đeo gông, tay chân mang xiềng xích như một tội phạm rồi dẫn giải về tống giam trong nhà tù tỉnh Nam Định.

Tại nhà giam tỉnh Nam Định, cha Tôma Đinh Viết Dụ nhiều lần bị tra khảo, bị khuyên dụ bỏ đạo, đạp lên Thánh Giá và bị đòn vọt đau đớn nhưng cha cương quyết không thể bỏ đạo và nhất định không khai báo điều gì liên hệ hại đến các tín hữu. Chính vì thế mà cha bị đánh đập tàn nhẫn nhiều lần. Lần tứ nhất 90 roi, lần thứ hai 30 roi, các lần kế tiếp là 20 roi. Mỗi lần bị đánh xong thì những người lính còn chế nhạo, mắng nhiếc ngài cách nhục nhã. Nhưng vị tông đồ của Chúa lúc nào cũng luôn tỏ ra nhẫn nhục và vui vẻ, coi đó là dịp tốt để được nên giống Chúa Kitô khổ nạn. Ông Giuse Hiền là nhân chứng kể lại rằng chính mẹ của ông ấy giả làm ngưòi hành khất vào tận ngục thăm nuôi cha. Khi gặp cha, bà thấy cha tùy tụy, quần áo rách nát vì bị tra tấn, máu me thấm đỏ cả quần lẫn áo thì bà nức nở khóc. Thấy bà khóc thương cha. Cha an ủi bà:

– Sức lực cha bị suy giảm. Nhưng cha còn có thể chịu được hơn nữa. Chúa Giêsu là Chúa mà đã chịu bao cực hình cay đắng đến cực độ để cứu chuộc chúng ta. Do đó, cha cũng sẵn lòng chịu mọi hình khổ để được nên giống Chúa. Con hãy cầu nguyện cho cha vững lòng tin yêu và chịu mọi khổ nhục vì Chúa. Được chết vì Chúa là hạnh phúc nhất đời, con ạ!

Lần sau, bà cũng giả làm người hành khất để vào thăm cha. Bà kể lại rằng. Khi gặp cha, cha vui vẻ và rất bình tĩnh. Cha nói:

– Những cực hình sau này cha phải chịu hình như Chúa đã giảm bớt sự đau đớn cho Cha. Cha không biết ngày nào sẽ được hiến dâng mạng sống vì Chúa. Có thể từ đây anh chị em không còn gặp Cha nữa. Bà hãy cầu nguyện nhiều, xin Chúa ban cho cha ơn nhẫn nại chịu đựng tất cả những điều người ta gây nên cho cha để danh Chúa được cả sáng.

Sau nhiều lần tra tấn, khuyên dụ không thành công, quan tổng đốc tỉnh Nam Định làm bản án với những lời lẽ như sau:

“Đạo trưởng Tôma Đinh Viết Dụ bị kết án trảm quyết vì tội truyền bá Gia Tô tả đạo. Các quan đã hết sức khuyên dụ, dọa nạt và tra tấn để bắt y qúa khóa theo luật nước. Nhưng y không chịu. Y đã trở nên chai đá không gột rửa được những điều dị đoan đã quá ăn sâu… Do đó, mọi người thấy rõ y là kẻ điên khùng cố chấp bất trị, đáng khinh dể. Vậy phải nghiêm trị, không còn phàn nàn gì nữa”.

Ngày 7 tháng 11 vua Minh Mạng ký bản án. Sau 5 ngày, bản án gửi về tới Nam Định. Khi ấy trong  nhà tù còn có cha Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên cũng đã bị bắt ngày 18 tháng 8 đã được đưa về giam tại đây chung với cha Tôma Du. Cũng bị án tử hình với Cha Đinh Viết Dụ. Hai cha được giam chung với nhau nên có dịp an ủi, khích lệ nhau, giải tội cho nhau, khuyến khích nhau kiên trì cho tới giờ phút cuối cùng.

Ngày 26 tháng 11 năm 1839, hai chiến sĩ kiên cường của Chúa bị giải ra nơi xử án. Hai đấng cùng anh dũng tiến ra pháp trường Bãy Mẫu đi giữa một đoàn quân oai vệ. Các quan cỡi voi chỉ huy đi tiên phong, hai bên là cờ quạt, chiếng trống. Đoàn quân rất hùng hậu áp giải hai vị Tông Đồ của Chúa. Theo sau là dân chúng đông đảo ồn ào bước đi cách vội vã. Đoàn người nhìn hai Đấng vai mang gông, tay mang xiềng xích, vừa đi vừa cầu nguyện, nét mặt tươi sáng, hân hoan khiến nhiều người sửng sốt ngỡ ngàng về thái độ vui vẻ của các Ngài.

Tới pháp trường Bảy Mẫu, quan chánh án hỏi lại lần cuối, nếu hai Đấng thay đổi ý mà bước qua Thập Giá thì sẽ được tha. Nhưng cả hai chiến sĩ Đức Tin đều lớn tiếng trả lời “Không” rồi quì xuống tiếp tục cầu nguyện để sẵn sàng lãnh nhận án tử hình. Bà Maria Ơn cũng chen chúc trong đám đông dân chúng để chứng kiến cuộc trảm quyết hai Đấng đã kể lại rằng:

“Chúng tôi vô cùng xúc động khi thấy hai Cha rất bình tĩnh, quì gối, chắp tay, ngửa mặt lên trời như để nói chuyện với các Thiên Thần đang bay lượn trên đầu các Ngài. Bọn lính cưa gẫy gông, cắt đứt xiềng xích sắt, rồi trói chặt tay hai Cha vào cột đoạn chém cổ hai Cha”.

Sau khi thi hành án trảm, lý hình tung đầu hai Cha lên cao ba lần và nói lớn: “Đầu đạo trưởng đã bị chém đây”.

Cha Tôma Đunh Viết Dụ hưởng thọ 56 tuổi, đã lãnh nhận phúc tử đạo đúng năm cha mừng lễ Ngân Khánh Linh mục của Cha. Một mùa Ngân Khánh được ghi vào lịch sử Giáo Hội Việt nam. Thi thể của hai cha được an táng ngay tại pháp trường Bảy Mẫu. Tháng Giêng năm 1841 giáo dân cải táng và rước về đặt tại nhà thờ Lục Thủy thuộc giáo phận Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 3 năm 1900. Sau khi được tôn phong lên bậc Chân Phước, giáo quyền lại đặt thi hài của cha thánh Tôma Đinh Viết Dụ trong một chiếc hòm gỗ sơn son thiếp vàng và trưng bày tại Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Phú Nhai. Đời đời mãi mãi ghi nhớ hình ảnh vị thánh nhân chứng Đức Tin, Người con ngoan ngoãn của Đức Mẹ Mân Côi. Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Ngày 26 tháng 11:

Thánh Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên

Linh mục  (1780-1839)

Thánh Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên sinh năm 1780 trong một gia đình rất hiền lành, ngoan đạo tại làng Hương Cáp tỉnh Nam Định. Khi còn nhỏ gia đình gọi cậu là Doãn. Khi bắt đầu đi học thì cha mẹ làm giấy khai sinh cho con và đặt tên là Nguyễn Văn Xuyên. Cậu Xuyên trí khôn rất thông minh, học hành rất giỏi. Cha mẹ cho cậu đi học chữ Nho. Sau lớn lên thấy con mình thông minh, sáng dạ thì ông bà dẫn con tới nhà xứ xin Đức Cha DelgadoY nhận giúp đỡ để cậu Xuyên được ăn học tới nơi tới chốn. Đức Cha DelgadoY nhận và giúp cậu học hành và tập sống đời tu trì. Cậu rất chăm chỉ học tập và giữ kỷ luật Nhà Chung rất nghiêm chỉnh. Do đó, các cha đều nhận định rằng cậu Đa Minh Xuyên rất ngoan ngoãn, dễ dậy và rất chịu khó chu toàn mọi công việc được trao phó. Đức Cha thấy cậu Xuyên học giỏi lại ngoan ngoãn đạo đức nên gửi cậu về trường La tinh ở Lục Thủy để học La tinh rồi sau đó  học tiếp các chương trình triết và thần học. Tới năm 1813 lúc thầy 33 tuổi thì Đức Cha Delgado Y truyền chức linh mục cho thầy. Vì  ngay từ khi còn nhỏ, cha Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên đã có lòng sùng kính Đức Mẹ Mân Côi rất đặc biệt cho nên cha đã xin Đức Giám mục giáo phận cho phép gia nhập dòng Đa Minh để cùng với các cha dòng Đa Minh truyền bá lòng sùng kinh Đức Mẹ Mân Côi.

Được Đức Giám mục cho phép, Cha vui mừng nhập vào dòng Đa Minh. Rồi qua thời gian thử thách và luyện tập theo luật Dòng, tới ngày 20 tháng 4 năm 1820 cha được tuyên khấn theo luật dòng tại Lục Thủy, thuộc giáo phận Bùi Chu.Là linh mục dòng Cha Đa Minh, cha đã nhiệt thành phục vụ các giáo hữu, liên tiếp đi giảng tĩnh tâm cho nhiều nơi, giảng dạy giáo lý cho mọi tầng lớp tuổi tác, sốt sắng cử hành phụng vụ Thánh Thể và các bí tích.

Thấy cha sốt sắng hoạt động thành công thì Đức Giám mục cử Ngài về coi xứ Phạm Pháo rồi xứ Kẻ Mèn trong bốn năm. Đây là những xứ lớn, giáo dân rất đông nên công việc mục vụ lại đòi hỏi cha phải mệt mỏi liên tiếp. Sau đó, Cha lại lập thêm xứ Vinh Sơn. Cha ở xứ Vinh Sơn một thời gian thì bề trên lại chuyển cha về coi xứ Đông Xuyên. Ở xứ Đông Xuyên 13 năm. Bảy năm đầu tình hình rất yên ổn trong cảnh thái bình. Nhưng những năm kế tiếp thì thật là sầu khổ! Nào là vì cảnh mất mùa, hạn hán, đói kém, trộn cướp mọc lên khắp nơi. Chính trong thời gian khổ cực này thì bọn giặc Phan Bá Vành nổi lên, cướp phá, gieo rắc thêm bao khốn cực cho người dân hiền lành. Bổn đạo rất cực khổ vì đói khát, cướp bóc, hạn hán, mất mùa v.v. Cha cũng phải chia sẻ cảnh đói khổ này. Đã hơn một lần, bọn cướp xông vào nhà thờ, nhà xứ cướp hết đồ đạc, kể cả đồ thờ phượng, áo lễ, chén lễ.. bọn chúng lấy hết! Thấy vậy, giáo dân đến an ủi thì cha nói:

– Nếu Chúa không muốn cho cha dùng những đồ ấy nữa thì

cha xin bằng lòng, xin vâng, không dám kêu trách gì nữa!

Trong những năm này, Vua Minh Mạng ra lệnh bắt đạo mỗi ngày thêm khốc liệt hơn. Đức Giám mục chỉ định Cha Xuyên về giúp Cha Giuse Hiền tại chủng viện Ninh Cường. Sau gần hai năm, Đức Giám mục lại gọi Cha về giúp Toà Giám mục tại Bùi Chu. Tình hình lệnh truy nã các đạo trưởng mỗi ngày thêm khó khăn nên Đức Giám mục Delgado Y phải bỏ Bùi Chu trốn sang Kiên Lao rồi cuối cùng Đức Cha Delgado Y cũng bị bắt tại đó. Trước tình thế khó khăn và bị bắt bớ như thế, Cha  Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên vẫn kiên trì coi sóc con chiên trong vùng Bùi Chu-Kiên Lao trước nhiều đe dọa. Cha liên tiếp phải trốn lánh, len lỏi từ nhà này qua nhà khác. Ban đêm Cha dâng thánh lễ và cử hành các bí tích, đồng thời thăm viếng, an ủi và khích lệ giáo dân trong cảnh cấm cách này.

Ngày 18 tháng 8 năm 1839, Cha tới họ Phú Đường thăm viếng giáo dân và dâng thánh lễ rồi phải vội vã lẩn trốn về họ Hạ Linh ngay, vì hôm đó là ngày lễ kính thánh Gioakim, bổn mạng của họ Hạ Linh. Trong dịp này, có một người đã quen biết Cha khi Cha còn ở Bùi Chu, biết Cha đang ở Hạ Linh đã vội vã đi tố cáo Cha với quan Huyện Xuân Trường gần đó để lấy tiền thưởng.

Được tin báo có đạo trưởng đang lẩn trốn tại Hạ Linh, ngày 18 tháng 8, quan Huyện liền kéo quân tới vây kín làng. Quân lính ẩn núp trong các bụi tre rậm rập không ai nhìn thấy. Bọn lính chờ đợi, dò dẵm tới khi thấy Cha Xuyên mặc áo lễ để dâng lễ thì tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng tù và nổi lên vang dội khắp làng. Thấy hoàn cảnh như thế, Cha Xuyên biết tình thế rất nguy cập, Cha cố găng tìm nơi trú ẩn nhưng vì hầm trú ẩn của Cha ở xa, không kịp nên bị quân lính xông tới bắt trói. Đồng lúc quân lính vây hãm trong làng, khi ấy còn một Cha khác cũng đang dâng lễ, Cha đã vội vã chịu Mình Thánh và Máu Thánh rồi chui trốn xuống hầm ngay tại đó nên quân lính không tìm thấy.

Cha Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên bị quân lính bắt, trói Cha và giải Cha tới trình diện trước mặt quan. Quan Huyện tra hỏi lý lịch và nghề nghiệp của Cha. Cha Nguyễn Văn Xuyên bình tĩnh trả lời:

– Tôi là Nguyễn Văn Xuyên, linh mục Công giáo. Tôi không phải là người của làng này. Nhưng thuộc làng khác.

Quan đưa cho Cha một Cây Thánh Giá và hỏi Cha:

– Ông có biết ông Chúa này không?

Cha vui vẻ trả lời:

– Có. Tôi biết. Đây là Chúa Giêsu mà chúng tôi tôn thờ.

– Nếu cụ có tiền thì chúng tôi sẽ lo liệu cho được về.

Cha đáp:

– Nếu quan làm ơn làm phúc mà tha cho tôi thì tôi nhờ. Nếu quan bắt tôi vì tôi là đạo trưởng thì tôi xin vâng. Tôi không có tiền chi cả, ngoài cái thân xác nghèo hèn này.

Nghe Cha nói thẳng thắn như thế, Quan truyền lệnh đóng gông vào cổ và xiềng xích chân tay lại rồi giải về Huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định..

Sau đó ít ngày. Giáo dân họ Hạ Linh mang tiền tới Huyện định xin chuộc Cha. Nhưng biết ý muốn đó, Cha đã khuyên can họ không nên làm như vậy. Cha khuyên nhủ họ:

– Các con hãy về lo cho họ Đạo của mình thôi. Còn việc của Cha, hãy để cho Chúa lo. Cha sẵn sàng vâng theo thánh ý Đức Chúa Trời định liệu. Nếu Chúa đã thương và muốn Cha như thế này thì chẳng nên mất tiền chuộc Cha làm chi kẻo lại trái ý Chúa thì không được.

Mặc dù Cha đã can ngăn như thế, giáo dân Hạ Linh cứ đem tiền đến quan Huyện để xin chuộc Cha.Quan Huyện nói:

– Tội chúng bay thì thế nào cũng định liệu cho xong. Nhưng tội của cụ Xuyên thì không thể xong được, vì bây giờ quan đốc tỉnh Nam Định đã biết cả rồi. Dù ta có muốn thì cũng

không thể nào làm theo ý chúng bay được.

Nghe quan nói thế. Giáo dân buồn bã ra về. Một vài người trở lại gặp Cha Xuyên, nói cho Cha biết công việc xin chuộc Cha không xong. Họ nấc nở khóc và thưa với Cha:

Chúng con xin vâng ý Cha, lãnh nhận thánh ý Đức Chúa Trời. Xin Cha nhớ thương cầu nguyện cho chúng con.

Với nụ cười khoan dung và bằng một giọng nói rất vui vẻ,  Cha khuyên:

– Chúa đã định như vậy thì chẳng ai có thể làm khác được. Chúng con hãy cầu nguyện để Cha can đảm chịu mọi sự khó cho nên. Cha rất vui lòng được chịu mọi sự khốn khó vì Chúa. Được chết vì Chúa là hạnh phúc lắm các con ạ.

Cha phải đeo gông rất nặng, muốn đi phải có hai người nâng đỡ Cha mới có thể đi lại dược Khi quan Huyện Xuân Trường cho giải Cha lên tỉnh Nam Định.thì quân lính phải buộc giây vào đầu gông rồi kéo Cha đi, thật thê thảm!

Tới tỉnh, quan tổng đốc thấy Cha tiều tụy quá thì không tra hỏi gì, liền ra lệnh tống giam vào ngục và bắt nhịn đói. Ngày hôm sau, quan cho lệnh ra hầu toà. Quan hỏi:

– Ngươi là kẻ có danh giá trong làng, tại sao nên nông nỗi này? Tên ngươi là gì? Ở làng nào và làm nghề gì?

– Thưa quan lớn! Tôi là Nguyễn Văn Xuyên, quê cha tôi ở làng Hương Cáp, mẹ tôi ở làng Sa Cát. Khi còn nhỏ tôi đi giúp Đức Cha Delgado Y, ngài cho tôi học và làm đạo trưởng trong đạo.

– Từ ngày làm đạo trưởng, ngươi ở đâu và làm những gì?

– Khi vua chưa cấm đạo thì tôi ở làng Đông Xuyên, giảng đạo cho người ta biết đạo Đức Chúa Trời là đạo thật. Từ khi vua ra lệnh cấm đạo thì tôi phải di chuyển ở nhiều nơi.

Quan tổng đốc truyền đưa tượng Chịu Nạn cho Cha và hỏi:

– Nếu ông vâng lời vua mà bước lên tượng này và bỏ đạo thì được tha ngay. Nếu không thì ông phải chết như nhiều người đã phải chết

Quan còn dùng nhiều lời ngon ngọt để dụ dỗ Cha Nghe quan nói, Cha quì xuống, một tay để trên ngực, một tay giơ cao tượng Chúa rồi Cha thưa lại:

– Bẩm quan lớn, quan lớn thương tôi mà tha cho tôi thì tôi muôn vàn đội ơn quan lớn. còn việc bước lên tượng Chúa tôi thì muôn vàn lần không. Tôi không dám!

Thấy thái độ cương quyết của Cha thì quan đốc tức giận, dùng những lời khinh bỉ xỉ vả làm nhục Cha.

Những người lính đứng hầu, thấy Cha bị xỉ nhục Cha quá thì thương và khuyên Cha;

– Ông cứ qúa khoá đi kẻo chết thì uổng lắm, ông ạ!

Cha đáp:

– Chết thì tôi chấp nhận chứ bước lên Chúa tôi thì tôi dứt khoát là không dám.

Quan tổng đốc nổi giận truyền lệnh cho bọn lính:

– Chúng bay đem nó đi mà đánh chết. Cứ việc đánh nát xác thằng ngu xuẩn này. Vô tội vạ!

Được lệnh quan tổng đốc, bọn lính đem Cha ra ngoài, trói chân tay rất chặt. Chúng kéo lôi mạnh đến nỗi sái cả khớp xương của Cha rồi đánh đập Cha rất tàn nhẫn. Cha đau đớn lắm. Đau đến ngất xỉu, miệng Cha chỉ kêu được:

– Giêsu Maria! Xin cứu con!

Thấy Cha xỉu, quan tưởng là Cha đã chết. Khi quan  truyền Cha đứng lên lạy tạ mà về, nhưng Cha không còn biết gì nữa. Sau đó quân lính phải khênh Cha về nhà tù.

Một tuần lễ trôi qua mà Cha vẫn còn bị đau đớn bởi trận đòn tàn khốc nói trên. Quan tổng đốc lại cho lệnh đòi Cha tới thẩm vấn nữa. Lần này quan đốc dùng lời lẽ lịch sự, khuyên Cha bước lên tượng Chúa. Cha vẫn một mực cương quyết không bước lên tượng Chúa, không bỏ đạo. Quan đốc lại bực mình, cho đánh nữa. Nhưng lần này Chúa ban thêm sức mạnh và can đảm nên Cha cũng cảm thấy đỡ đau đớn hơn trước. Cha cố gắng lết tới gần quan tổng đốc và nói:

– Bẩm quan lớn, tôi xin thưa với quan lớn một lần nữa rằng, dù sống dù chết, tôi cương quyết không bao giờ bỏ Chúa là Đấng dựng nên trời đất.  Tôi thà chết vì Chúa hơn là nghe quan lớn bỏ Chúa để được sống thêm ít ngày nữa rồi cũng phải chết đời đời.

Quan tổng đốc giận quá, quát lớn tiếng:

– Ta không thèm nghe thằng ngu xuẩn này nữa! Nó đã uống thứ thuốc bùa ngải nào rồi nên không ai dạy bảo được nó nữa. Chỉ còn việc đánh đòn mà thôi!

Quân lính lại trói Cha vào cột và đánh Cha 30 roi. Thấy bị đánh mà Cha cũng không lên tiếng. Quan ra lệnh thôi. Quan quyết định làm bản án để trình về triều đình, nhưng lại có người tới trình với quan tổng đốc rằng:

“Người này là kẻ thay quyền tên Giám mục Delgado Y nên còn giữ nhiều của cải của ông ấy”.

Nghe nói thế nên quan nổi lòng tham, liền ngưng lệnh xử án, để quan dò xét thêm. Ban đêm quan tổng đốc cho gọi Cha tới điều tra về vụ tiền bạc của Đức Giám mục Delgado Y. Quan muốn khủng bố tinh thần Cha nên một bên để các đồ tra tấn thật kinh sợ để đe dọa, một đàng quan dùng lời lẽ ngọt ngào, buộc Cha phải khai ra chỗ cất giấu của cải, vàng bạc. Cha thành thật thưa với quan đốc:

– Bẩm quan lớn! Thật tình tôi không được quyền kế vị Đức Giám mục. Khi còn nhỏ tôi có ở với Ngài một thời gian rồi tôi vào chủng viện học hành. Khi lớn lên tôi lãnh chức đạo trưởng (linh mục) rồi đi làm việc. Tôi chỉ được gặp Ngài mỗi năm một lần mà thôi. Tôi không hề biết của cải vàng bạc của Ngài.

Đang lúc bực tức và tham lam, quan truyền lấy kìm sắt nung đỏ kẹp chín thịt Cha. Cha chịu cực hình dữ tợn như vậy mà không một lời kêu than. Thấy Cha không nao núng, quan lại truyền lấy kim sống kẹp thịt Cha. Lúc này thì Cha thấy đau quá nên bất tỉnh nhân sự. Quan cho lệnh đưa Cha về ngục. Cha chịu cực hình quá đau đớn, thịt  Cha thối tha xông mùi hôi thối. Quan cai ngục trình quan tổng đốc, khi ấy quan tổng đốc mới cho thầy thuốc vào chữa trị cho Cha. Trong lúc Cha bị đau đớn hôi thối như vậy thì nữ tu Maria Nụ được vào thăm Cha. Chị nữ tu Maria Nụ ra vào nhiều lần, lấy nước nóng và thuốc băng bó cho Cha.

Chi Maria Nụ kể lại rằng mỗi lần vào thăm và chữa trị cho Cha, chị chỉ thấy Cha đọc kinh Mân Côi. Cha nói với chị là chắc chắn Cha sẽ được phúc tử vì đạo. Cha xin chị và giáo dân cầu nguyện cho Cha được bền vững tới cùng.

Ngày 25 tháng 10 năm 1839, quan tổng đốc viết án tử hình gửi về kinh xin vua phê chuẩn. Ngày 12 tháng 11, vua cho chiếu chỉ hạ lệnh trảm quyết cha Nguyễn Văn Xuyên. Vài ngày trước khi bị xử, may mắn cha được chuyển nhà tù, ở đây cha gặp cha Tôma Định Viết Dụ. Hai đấng vui mừng ban bí tích cho nhau và khích lệ nhau thêm can đảm chịu mọi sự khó và chết cho Chúa.

Ngày 26 tháng 11 năm 1839, hai Cha bị giải tới pháp trường Bảy Mẫu. Từ sáng sớm, đoàn quân đông đảo gươm giáo, voi ngựa đi hai hàng, hai vị chứng nhân Chúa Kitô đi ở giữa, cổ đeo gông nặng nề, tay chân bị xiềng xích bước theo. Nét mặt tươi vui, thư thái và bình an. Hai Cha vừa đi vừa cầu nguyện cho tới pháp trường Bảy Mẫu. Dân chúng đi xem đều bỡ ngỡ cảm phục vì thấy hai Cha vẫn bình tĩnh, nét mặt vui tươi, không hề tỏ vẻ sợ hãi.

Tới pháp trường, quan giám sát tiến lại gần hỏi hai Cha lần chót:

– Các ông có muốn quá khóa để được tha chết không?

Cả hai Đấng đều lớn tiếng trả lời thật giõng dạc:

– Không!

rồi đưa tay cho lý hình tháo xiềng xích để trói vào cọc đã chôn sẵn. Chiêng trống vang lên ba hồi, chín tiếng. Tới tiếng chiêng trống cuối cùng thì hai nhát gươm vung lên, hai chiếc đầu rụng xuống. Hai tôi tớ Chúa được lãnh triều thiên tử đạo bay thắng về Trời. Cha Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên với 53 tuổi đời, phục vụ Chúa và Giáo hội trong chức linh mục được 20 năm. Thi thể hai Đấng được an táng ngay tại pháp trường Bảy Mẫu. Tháng Giêng năm 1841, giáo dân đã cải táng cả hai Đấng, rước về thánh đường Lục Thủy, giáo phận Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã suy tôn Cha Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên bậc Hiển Thánh tử đạo ngày ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 Ngày 28 tháng 11

Thánh Anrê Trần Văn Trông

Quân Nhân (1814-1835)

Thánh Anrê Trần Văn Trông sinh năm 1814 trong một gia đình Công giáo đạo hạnh ở Kim Long, Phú Xuân, Huế. Cậu là con trai duy nhất trong gia đình. Cha là ông Tadêô Trần Văn Hoàn làm nghề thợ bạc. Mẹ là bà Maria Gia làm nghề nột trợ. Nhưng thật không may mắn, lúc cậu Trông được 15 tuổi thì cha cậu qua đời, để lại cảnh mẹ goá nuôi bốn đứa

 con mồ côi cha! Gia đình nghèo túng, cậu phải bỏ học và cùng với mẹ, hai chị và một em gái theo bà con lối xóm về họ Thợ Đúc làm nghề dệt tơ cho hoàng gia. Cậu Trông là người thật thà, luôn chăm chỉ làm việc và không ưa chuyện gây gỗ, cãi cọ, tranh giàng với ai. Tính cậu rất trầm lặng, không ưa ồn ào, nhộn nhịp. Chiều chiều sau giờ làm việc cậu thường lặng lẽ một mình mang cần câu ra bờ sông Hương để thả câu, hoà mình với cảnh thiên nhiên. Nhưng  cuộc sống êm ả này không kéo dài được bao lâu vì đồng lương không đủ cho cả gia đình sống. Tới 20 tuổi, cậu phải từ gĩa mẹ, hai chị và cô em gái út để lên đường nhập ngũ.

Phục vụ trong ngành quân đội được 9 tháng thì vua Minh Mạng ra lệnh các lính theo đạo Công giáo phải khai lý lịch.

Trong dịp này, cậu Anrê Trần Văn Trông bị bắt cùng với 12 quân nhân bạn khác, dẫn tới trình diện các quan. Trong toà án có 5 quan ngồi chờ đợi để xét xử, ngoài sân có đội quân cầm roi, và lò lửa với kìm kẹp để sẵn. Một vị quan hỏi các anh:

– Chúng bay có chịu quá khóa, bỏ đạo không?

Tất cả 12 người đều đồng thanh thưa:

– Không.

Lính trấn phủ bắt trói anh Trông rồi khênh qua Thánh Giá. Nhưng anh co chân lại, quyết chí khônh xúc phạm đến ảnh tượng Chúa Các quan liền ra lệnh tra tấn, kìm kẹp rất dã man. Vì đau đớn và kinh hoàng quá, 12 đồng đội run sợ phải đầu hàng, bỏ cuộc. Còn lại một người duy nhất là anh quân nhân trẻ trung mới 20 tuổi đời cương quyết, chấp nhận mọi hình khổ, nhât định không bỏ đạo. Các quan thấy anh khẳng khái như thế thì bàn định kết án tử hình, nhưng chưa xử ngay.

Thế là anh binh nhì Anrê Trần Văn Trông bị tống giam vào nhà tù suốt một năm trời, chịu nhiều cơ cực khổ sở. Nhưng trải qua mọi đau đớn khở cực, lòng tin cậy nơi Chúa càng gia tăng và ơn Chúa tiếp sức cho anh càng dồi dào khác thường. Anh luôn tìm mọi cách để giúp đỡ các bạn trong tù và khuyên bảo, khích lệ những người bạn đồng đạo. Anh luôn cầu nguyện bằng tràng hạt Mân Côi, và dâng phó linh hồn và xác của anh cho Chúa và Đức Mẹ. Anh chỉ xin ơn duy nhất là được ơn bền vững tới cùng. Khi nhận được quà thăm nuôi của mẹ và của hai chị, anh Trần Văn Trông vui vẻ đem phân chia cho các bạn tù một cách rất thân ái. Nhờ lòng tốt và thân thiện như vậy mà anh Trông đã nhiều lần đi xưng tội và về thăm mẹ và các chị em.

Có lần anh biết tin Cha Ngôn đang âm thầm hoạt động tại Phú Xuân, anh Trần Văn Trông đã xin ông Cai Đội quàn ngục cho phép anh được về thăm mẹ. Nhờ thế, anh Trông đã lén lút chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa, lúc dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anh Trông liền xuống thuyền của Cha Ngôn, rồi đẩy thuyền ra giữa sông, hai cha con tâm sự, anh xin xưng tội và xin Cha Ngôn ban phép lành cho anh. Anh xin rước lễ, nhưng cha hẹn sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Sau đó anh trở về Kim Long. Anh ngủ tại nhà mẹ một đêm. Mẹ con gặp nhau, xiết bao vui mừng. Mẹ anh khích lệ, khuyên anh hãy can đảm, sẵn lòng chịu mọi đau khổ vì Chúa và Đức Tin. Sáng hôm sau anh tới điểm hẹn gặp cha Ngôn để lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn cầu nguyện: Uớc gì Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô gìn giữ con đến cuộc sống muôn đời”. Anh Trông thưa: “Amen”rồi lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Sau đó, anh vui mừng trở về nhà tù trình diện viên Cai ngục như lời hứa hen.

Sau một năm tù đày với muôn vàn hình khổ, trải qua nhiều cuộc tra tấn, nhưng không hy vọng gì anh Trông sẽ bỏ đạo nên các quan quyết định xử trảm anh.

Ngày 28 tháng 11 năm 1835 bản án được châu phê để đem anh đi hành quyết. Sáng sớm người anh họ vào thăm. Anh Anrê Trần Văn Trông nhắn người anh họ:

– Anh hãy về ở giúp mẹ tôi. Anh nói với mẹ tôi rằng tôi đã được phúc chết vì Chúa. Xin mọi người giữ đạo thánh Chúa. Còn phần tôi thì mọi sự đã xong, tôi không lo lắng gì nữa.

Người lính mang bán án đến cho viên Cai Tù, ông cho lệnh tập họp các tù nhân lại. Viên Cai Tù đọc bản án rồi đeo gông vào cổ anh Trông, anh Trông được lệnh đi theo đoàn quân hành quyết tới pháp trường.

Hôm ấy trời lâm dâm mưa và nổi gió lớn! Anh Trần Văn Trông nét mặt tươi tỉnh, tay cầm tràng hạt vui vẻ bước theo đội quân. Mẹ anh được tin vội vã ra chợ An Hoà đón gặp con. Bà nói với con:

–  Con ơi! bấy lâu ở trong tù con có mặc nợ của ai không. Hãy cho mẹ biết để mẹ thanh toán với người ta?